Tổ chức như một dòng chảy và như sự biến hóa – Phần cuối


Sức mạnh và hạn chế của ẩn dụ dòng chảy và sự biến đổi

Ngày nay chúng ta thường coi sự thay đổi như là hiển nhiên, như một sức mạnh bên ngoài làm thay đổi thế giới bao quanh ta và gây ra biết bao vấn đề mới phải giải quyết. Một trong các sức mạnh chính của các hình tượng được nghiên cứu trong bài này là nó nhằm thăm dò tự nhiên và nguồn gốc của thay đổi để chúng ta có thể hiểu được lôgích của nó. Điều đó có một tác dụng to lớn đến cách thức chúng ta hiểu và chỉ đạo các tổ chức vì có một lôgích nội tại của những thay đổi xác định thế giới của chúng ta, có thể hiểu được và quản lý được sự thay đổi đó ở cấp độ khác nhau và cao hơn tư duy và hành động.

Nếu ta nghiên cứu các tư tưởng hiện đại về quản lý sự thay đổi trong các công trình về lý thuyết tổ chức, chúng ta nhận thấy rằng người ta đề cập đến nó ở hai mức độ. Thứ nhất là mô tả và tìm cách phát hiện và xếp loại những biểu hiện của sự thay đổi, chẳng hạn người ta nhìn nhận nó như những sự kiện rời rạc ảnh hưởng đến tự nhiên, nhịp độ và hướng đi của những biến động kỹ thuật, marketing, dân số và tổng quát hơn là ý nghĩa kinh tế xã hội. Thứ hai mang tính chất phân tích hơn và tìm cách nêu ra đặc trưng của sự thay đổi bằng những từ ngữ trừu tượng hơn, như mức độ bấp bênh hoặc không ổn định của nó. Những nỗ lực này đã đưa đến các cách mô tả và các cách phân loại bản chất của sự thay đổi nhưng không thực sự giải thích động lực cơ bản của nó. Nó cho phép chúng ta đề ra những lý thuyết về cách thức các tổ chức có thể tác động trước các loại hình thay đổi khác nhau nhưng không đưa ra một dấu hiện nào về kiểu cách các tổ chức có thể bắt đầu gây ảnh hưởng đến bản chất của sự thay đổi  mà nó phải đương đầu. Muốn vậy chúng ta phải chuyển sang cấp độ tư duy mới mà ẩn dụng dòng chảy mang lại. Chúng ta nên tìm hiểu tại sao các sự kiện rời rạc hình thành kinh nghiệm về sự thay đổi của chúng ta, được sử dụng trong các cách phân loại về tính chắc chắn và tính bấp bênh của môi trường, đều do một lôgích ẩn náu trong chính quá trình của sự thay đổi gây nên. Hiểu rõ được lôgích này chúng ta tạo ra các phương tiện tư duy mới về sự thay đổi và quản lý nó. Thực vậy đáng nhẽ thỏa hiệp với những biểu hiện của lôgích này, tức là với các sự kiện rời rạc đưa đến sự bấp bênh, thì chúng ta có thể tìm cách xem xét chính lôgích này. Như vậy chúng ta bắt đầu xác định và điều khiển các sức mạnh mà chúng ta cho rằng chúng thuộc về một thực tế khách quan hiện ra trước chúng ta, độc lập với nỗ lực của chúng ta.

Ba hình tượng về sự thay đổi nghiên cứu trong bài này cho ta cách thức tư duy khác về quá trình lôgích của sự thay đổi. Với tư cách là các ẩn dụ nó phản ánh các mặt khác nhau của dòng chảy xác định đời sống hàng ngày và thúc đẩy chúng ta hiểu nó theo các cách khác nhau: như là sự biểu hiện tự sản sinh của chính hành động của ta, như là một mạng lưới nhân quả tương tác được xác định bởi các quá trình liên hệ ngược âm và dương và như một quá trình biện chứng của mặt đối lập được thể hiện ra. Nó cũng đưa ra cho chúng ta các cách thức quản lý sự thay đổi. Theo quan điểm tự sản sinh chúng ta có thể quản lý tốt hơn sự thay đổi khi ý thức được tốt hơn về các quá trình tự qui chiếu, qua đó chúng ta tổ chức và tạo ra môi trường của mình, chúng ta cũng có thể làm thay đổi bản chất của sự thay đổi bằng cách thay thế các hình tượng coi mình là trung tâm bằng các hình tượng thừa nhận sự phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng ta đối với người khác. Quan điểm tính nhân quả lẫn nhau đưa chúng ta đến một cách nhìn có liên quan bằng cách kích thích chúng ta quan tâm đặc biệt đến bản chất của các mối liên hệ, quản lý nó và làm thay đổi nó để gây được ảnh hưởng đến các mô hình ổn định và thay đổi. Quan điểm biện chứng đưa chúng ta hiểu được những đối lập cơ bản của sự thay đổi, xác định thế giới của chúng ta và quản lý sự thay đổi bằng cách tác động đến các mặt đối lập này. Bất chấp sự khác biệt của chúng, ba cách tiếp cận này có nhiều điểm bổ sung và có thể kết hợp với nhau, điều đó mang lại cho chúng ta những phương tiện cực kỳ quan trọng để tác động đến lôgích và theo đó chúng ta tạo ra và tái tạo ra thế giới mà chúng ta đang sống.

Những hình tượng được xem xét ở đây mang lại một phương tiện phân tích cái mà người ta gọi là “cấu trúc sâu” của thực tế hàng ngày. Nó thúc đẩy chúng ta tìm hiểu thế giới của mình như là biểu hiện của một quá trình phát sinh sâu sắc hơn hoặc nói như David Bohn, như một trật tự được lý giải hoặc được mở ra từ một thực tế cơ bản hơn mà trật tự hàm ý của nó lại bị che đậy. Về mặt này chúng ta có thể đối chiếu lại các tư tưởng đã được trình bày trong bài Tổ chức như một nhà tù tâm lý, ở đó chúng ta thấy có thể hiểu thế giới thường ngày như là một biểu hiện của cái vô thức. Đóng góp đặc biệt của bài này chính là chỉ ra cho thấy các quá trình bị che dấu, nhưng lại quyết định thực tế, đều bị ẩn khuất trong các lôgích thay đổi tạo nên toàn bộ đời sống của chúng ta. Mặc dù điều ấy như là siêu hình nhưng lại có những hiệu quả rất cụ thể.

Trong khoa học và đời sống hàng ngày chẳng hạn, chúng ta thường nhấn mạnh đến cái tiềm ẩn và cái hiển hiện. Các nhà quản lý, trong tổ chức của mình, có một cái khung qui chiếu tương tự và họ đề xuất các ấn đề và các giải pháp dựa trên các khía cạnh hiển hiện nhất của tình hình mà họ phải giải quyết. Nếu như các tư tưởng được nghiên cứu ở đây có một giá trị nào đó thì các cách hiểu theo truyền thống không đưa đến một sự đánh giá đầy đủ về tình hình, trừ phi ta nắm được những đặc điểm thực tế bề ngoài quyết định nguồn gốc của lôgích thay đổi. Lấy một ví dụ giản đơn, chúng ta cố tìm hiểu sự xung đột về quyết định đóng cửa nhà máy như là một sự xung đột giản đơn về lợi ích giữa công đoàn và ban lãnh đạo. Ban lãnh đạo muốn đóng cửa nhà máy vì những lý do kinht ế, còn công đoàn thì lại muốn mở cửa để bảo vệ công ăn việc làm của đoàn viên và bảo vệ cho dân chúng địa phương mà nhà máy là một nguồn thu nhập quan trọng. Ở mức bề ngoài, ta có thể nói các bên mâu thuẫn bởi vì họ tìm cách đạt đến các mục tiêu khác nhau, có thể không tương hợp với nhau. Tuy vậy, ở mức sâu sắc hơn, người ta có thể nhận thấy rằng mâu thuẫn bắt nguồn từ tương tác giữa các lực lượng ẩn dấu tạo nên loại khủng hoảng này.

Suốt trong những năm 70 và 80, có một số lớn doanh nhgiệp trong các ngành kinh tế truyền thống của phương Tây, than, thép, vận tải hàng hóa, công nghiệp nặng, đều nằm trong tình hình khủng hoảng này. Mỗi lẫn đều biểu hiện bằng các cuộc tranh đấu gay gắt giữa giới chủ và công đoàn. Khi xét thấy các cuộc tranh đấu này đều bắt nguồn từ những lực lượng quyết định khuôn khổ hành động, không hẳn là mưu mô chính trị từ phía người có liên quan, chúng ta đi đến nhận thức vấn đề đóng cửa một nhà máy như là triệu chứng của một quá trình cơ bản hơn là ẩn khuất trong lôgích hệ thống công nghiệp. Các cuộc khủng hoảng tương tự xẩy ra trong những tình hình khác, chẳng hạn trong dịch vụ y tế, dịch vụ tư pháp, nơi mà các cuộc khủng hoảng tài chính làm nẩy ra các ý định hợp lý hóa và đơn giản hóa hoạt động được thực hiện một cách giống như định kích động các cuộc khủng hoảng khác.

Trong các bệnh viện, chẳng hạn, khủng hoảng có dạng xung đột giữa nhu cầu hiệu quả và chăm lo mang tính nhân văn và nghề nghiệp và trước tòa án lại có sự xung đột giữa một bên là nhu cầu hiệu quả và, bên kia, là xét xử công bằng theo pháp luật và các nguyên tắc mà các cá nhân và hệ thống tư pháp đều thấy là nên làm. Trong trường hợp đóng cửa một nhà máy, ta có thể cho rằng vấn đề là một xung đột lợi ích giản đơn và là một biểu hiện của lôgích cơ bản chỉ đạo hệ thống.

Cách thức nêu ra các vấn đề cơ bản có ảnh hưởng quyết định đến kiểu giải quyết nó. Trong khi tập trung vào các vấn đề coi như là xung đột lợi ích, chúng ta chỉ đi đến những giải pháp có kẻ thắng người thua. Khi doanh nghiệp đóng cửa nhà máy của mình chẳng hạn, thì họ để cho dân chúng địa phương và chính phủ lo toan đương đầu với thất nghiệp. Một đợt vận động nhằm tăng hiệu quả trong dịch vụ y tế và dịch vụ tư pháp gây ra những khủng hoảng và những điều bất thường mà dân chúng phải gánh chịu hơn là được các cơ quan có trách nhiệm giải quyết. Ngược lại, xem xét một vấn đề trên cơ sở lôgích của sự thay đổi, đưa đến sự nẩy sinh ra nó, sẽ dẫn đến nhiều kịch bản khác nhau – Những kịch bản thường dựa vào những thay đổi khả dĩ trong lôgích của bản thân hệ. Thường thì điều đó dẫn đến một nhận thức mới về lợi ích đối chọi nhau và xây dựng lại các mối liên hệ giữa những người có liên quan.

Việc xây dựng lại này thường phải bắt đầu ở cấp cục bộ thông qua việc xem xét các vấn đề đặc biệt mà ta nhận thấy; có thể nó có mối liên hệ với các vấn đề hệ thống quan trọng hơn. Cần phải xử lý các vấn đề này một cách rộng hơn, với sự tham gia của người khác có thể cùng chia sẻ sự băn khoăn này. Chính các tiểu ban lao động, được thành lập để phản ứng một cách sáng tạo trước sự suy giảm của các ngành công nghiệp địa phương, có thể hình thành các mối liên hệ với các nhóm tương tự nhằm thực hiện một số thay đổi cơ cấu trong hệ thống công nghiệp bằng một hành động tập thể và chính trị rộng rãi hơn.

Cũng như vậy, các nhóm địa phương vấp phải những vấn đề tại chỗ có thể nhất trí để tác động đến việc tài trợ và đến cơ cấu các dịch vụ liên quan đến họ.

Khi nghĩ đến các lôgích của sự thay đổi, chúng ta đi đến cân nhắc về các giả thuyết cơ bản nhất, tác động đến các tổ chức và đến xã hội. Thường các giả thuyết này có nguồn gốc trong các ý thức hệ, thúc đẩy là chấp nhận nó như vậy, không phải suy nghĩ. Trong chế độ tư bản, một số biến thể của thuyết Darwin xã hội hậu thuẫn cho tư tưởng cạnh tranh giữa các cá nhân và giữa các tổ chức bởi vì người ta cho đó là cách hiệu quả nhất để tổ chức xã hội. Ở một số nước, có những cách lý giải sai lầm đối với học thuyết Marx nhằm hợp pháp hóa cho hệ thống kinh tế và kế hoạch hóa xã hội tập trung. Do các nguyên lý làm cơ sở cho các hệ thống khác nhau này được trình bày như một thách thức ý thức hệ hoặc chính trị, nên những hệ quả chi tiết và lôgích nội tại của các hệ thống khả dĩ khác ít khi được phân tích phê pháp. Người ta được khích lệ tin vào hiệu lực của một hệ thống thắng thế ở một xã hội mà mình là thành viên.

Các tư tưởng được trình bày ở đây chỉ ra rằng các cấu trúc sâu của những ý thức hệ khác nhau giả định sự tồn tại của nhiều lôgích thay đổi khác nhau, mà nó hậu thuẫn và có thể được phân tích một cách chặt chẽ và hệ thống. Như vậy, tốt hơn là nên chấp nhận khẳng định nổi tiếng của Adam Smith, theo đó có một “bàn tay vô hình” hướng đạo các hệ thống tư bản, vì việc theo đuổi lợi ích cá nhân cũng có lợi cho toàn xã hội, chúng ta có thể phân tích chi tiết lôgích của hệ thống tư bản.

Cuối cùng, sức mạnh chính của chương trình này là dẫn chúng ta đến chỗ thấy được rằng có nhiều vấn đề tổ chức hoặc xã hội không thể giải quyết một cách manh mún. Những nguyên nhân không rõ nét được nói ở trên nhưng lại là một vấn đề quan trọng đến mức cần phải nhấn mạnh. Nói một cách ngắn gọn, các tư tưởng được trình bầy ở trên chỉ ra rằng trong chừng mực các vấn đề là hậu quả tự nhiên của lôgích hệ thống (trong đó có chúng), thì chỉ có thể giải quyết được các vấn đề đó bằng cách cấu trúc lại lôgích. Đây là một ví dụ giản đơn: một kiểu tư duy coi mình là trung tâm và manh mún, được một số người sử dụng để tự nhìn mình tách rời với môi trường và làm cho nó độc lập với mình, bằng cách ngoại xuất nó vào trong một môi trường coi như bên ngoài, những vấn đề họ không muốn giải quyết, thường có các hậu quả bệnh lý. Một nhà máy giấy sinh ra chất thải, kết quả của quá trình sản xuất, lại phải đương đầu với vấn đề loại trừ chất thải. Đáng lẽ trực tiếp phải chi tiền để giải quyết (có thể tốn kém về tài chính) thì nhà máy lại đổ chất thải này vào một địa điểm định trước cho mục đích này; chất thải làm ô nhiễm nước, và rồi ai đó phải chịu trách nhiệm về việc phải lọc nước cho sạch. Mặc dù có thể có các biện pháp pháp lý, chẳng hạn bắt nhà máy phải nộp phạt, hay dựa vào tinh thần trách nhiệm của người lãnh đạo, vấn đề cơ bản dựa trên lôgích đưa doanh nghiệp đến chỗ suy nghĩ và hành động theo cách đó. Với loại hình tư duy này, chắc chắn có những vấn đề mới có bản chất tương tự xuất hiện, ngay cả trong trường hợp vấn đề trước mắt được giải quyết. Có nhiều vấn đề hiện đại có thể nói là tự nẩy sinh ra, và chúng ta có thể phải đương đầu trên cơ sở lôgích làm nền tảng cho nó. Đó chính là các tư tưởng được trình bày ở đây thúc đẩy chúng ta phải làm.

Ẩn dụ dòng chảy cũng có hạn chế của nó. Trước hết có một số người nói rằng cách tiếp cận xuất phát từ hình thức tư duy này quả là lý tưởng. Chẳng hạn, tất cả các giải pháp đều đòi hỏi sự biến đổi triệt để lôgích của một hệ xã hội chắc sẽ vấp phải sự chống đối của hệ. Ý thức hệ hậu thuẫn cho một lôgích thay đổi nào đó có thể loại trừ khả năng chấp nhận những lôgích khác. Nếu như vậy thì có thể chúng ta chắc là nạn nhân của chính lôgích thay đổi mình, vì có thể có các hậu quả bệnh lý đến ngày nào đó sẽ phá hoại ngay phẩm chất tốt đẹp của xã hội. Thật khó mà lẩn tránh được thuyết định mệnh này. Thực vậy, mặc dù con người, về mặt lý thuyết mà nói, có khả năng lựa chọn các lôgích mà theo đó, họ xuất hiện rồi lại tái xuất hiện, nhưng không có nghĩa là họ luôn luôn có khả năng thực tế đó. Đây là sự phê phán có phần bi quan nhưng nó lại chứa đựng sự báo trước rất quý giá khi chỉ ra rằng lôgích của một số loại hình phát triển có khả năng dẫn đến ngõ cụt, hay chính xác hơn là đến các mô hình thay đổi mà người ta không còn nhận ra các hình thức của sự sống nữa.

Có sự phê phán tiềm tàng đối với ẩn dụ này là ở chỗ chỉ sau đó người ta mới đi đến nhận thức đầy đủ được các lôgích của sự thay đổi. Tuy nhiên hạn chế này có thể không lớn như hạn chế trên đây. Mặc dù không thể phủ nhận rằng các lôgích thay đổi vừa bàn trên đây đã cố làm rất nhiều để giải thích quá khứ hơn là để dự kiến tương lai nên những lời tiên đoán của nó thật đáng chú ý. Chẳng hạn như ta đã biết, có một số tiên đoán của Marx, trong khi ông phân tích sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, đã chịu được thử thách của thời gian. Tuy nhiên cần tránh nhấn mạnh đến khả năng tiên đoán của một học thuyết. Chúng ta thường quên rằng chúng ta chỉ có thể phán xét khả năng sau đó mà thôi, ta luôn luôn không thể biết trước được tương lai. Như vậy, như nhiều nhà tương lai học nhắc lại với ta bây giờ, không bao giờ có một tương lai duy nhất đâu, thực vậy khi nói đến tương lai tức là nói đến các khả năng. Là con người có khả năng lựa chọn, về nguyên tắc chúng ta có khả năng xác định và tác động đến tương lai, ít ra ở một chừng mực nhất định. Các tư tưởng được trình bày trên đây giúp ta làm việc đó bằng cách cho thấy các đặc trưng của tương lai có thể ẩn náu trong các sắp đặt và các xu hướng của hiện tại ra sao.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Gareth Morgan – Cách nhìn nhận tổ chức từ nhiều góc độ – NXB KHKT 1994.

About these ads

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s