Nguyên nhân nợ công – Phần cuối


Thứ tư, do bội chi ngân sách lớn và kéo dài khiến vay nợ trở thành nguồn lực chính bổ sung thâm hụt là nguyên nhân khiến tình hình nợ công ngày càng trở thành gánh nặng cho nền kinh tế. Nguồn thu ngân sách từ thuế sụt ỉam, chi phí phúc lợi gia tăng, dân số già hóa dẫn đến thâm hụt ngân sách. Thâm hụt ngân sách của Nhật Bản ở mức báo động với con số là 30,8 nghìn tỷ yên (khoảng 340,3 tỷ USD), tương đương 6,4% GDP (năm 2010). Thâm hụt ngân sách ở mức cao là nguyên nhân đẩy tỷ lệ nợ công cao so với GDP của Nhật Bản lên mức cao hơn, điều này hàm ý rằng chi phí trả nợ ngày càng tăng và do đó khiến cho thâm hụt ngân sách ngày càng lớn. Sự tăng liên tục của thâm hụt ngân sách làm cho nền kinh tế của Nhật Bản gặp khó khăn, thị trường chứng khoán suy yếu, hiệu quả kinh doanh thấp và cản trở tăng trưởng kinh tế, tác động xấu đến nợ công.

Sự chi tiêu thiếu kế hoạch cũng như sự thiếu minh bạch trong số liệu tài chính và nợ công nhằm vội vã thực hiện đủ tiêu chí gia nhập vào cộng đồng châu Âu của Hy Lạp và Bồ Đào Nha đã làm suy yếu hệ thống tài chính – ngân hàng và mất lòng tin của người dân và giới đầu tư, được coi như nguyên nhân chính gây ra cuộc khủng hoảng nợ công ở các quốc gia này.

Thứ năm, Chính phủ liên tục tăng khối lượng phát hành trái phiếu để lấy tiền trang trải chi phí an sinh xã hội và để bù đắp thâm hụt ngân sách. Một nguyên nhân khiến nợ công Nhật Bản tăng là do Chính phủ liên tục tăng khối lượng phát hành trái phiếu để bù đắp thâm hụt ngân sách, trong khi nguồn thu từ thuế giảm mạnh do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Từ năm 2000, lượng phát hành trái phiếu chính phủ của Nhật Bản đã vượt qua Mỹ, trở thành nước phát hành trái phiếu lớn nhất toàn cầu. Dư nợ của Nhật Bản (trong đó có trái phiếu chính phủ và hối phiếu tài chính) vượt quá mức 900.000 tỷ yên. Với dân số 127,42 triệu người, dư nợ bình quân đầu người ở Nhật Bản hiện ở mức khoảng 7,1 triệu yên. Trong kế hoạch tài khóa 2012, Chính phủ Nhật Bản đặt mục tiêu phát hành 44.000 tỷ yên trái phiếu. Lượng trái phiếu phát hành tăng làm cho nợ công tăng nhanh cùng với nạn giảm phát và nhu cầu tiêu thụ nội địa yếu ớt đang cản trở đà phục hồi của nền kinh tế Nhật Bản.

Về nguyên nhân của cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu, ngoài nguyên nhân trực tiếp là do các quốc gia mắc nợ công cao (Hy Lạp, Italia, Tây Ban Nha…) đã thiếu trách nhiệm đi vay quá nhiều do được hưởng lãi suất ưu đãi với tư cách là thành viên của khối Eurozone và chỉ tiêu thiếu kiểm soát, còn có nguyên nhân sâu xa, nằm ở chính bản thân khối đồng tiền chung châu Âu. Khi một đồng tiền đơn lẻ lại có thể làm đại diện chung cho cả 17 quốc gia có trình độ phát triển khác xa nhau với các thể chế chính trị cho đến kinh tế, thậm chí cả các tập đoàn buôn bán thương mại cũng ở các mức độ rất chênh lệch. Và khi chỉ số tín dụng cấp quốc gia khác nhau ở các nước trong khối Eurozone thì Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) không thể áp dụng cùng một mức cho vay giống nhau đối với cả 17 nước này. Khi được hưởng mức vay ưu đãi, dễ dàng ngang bằng với Đức, Pháp thì việc Hy Lạp hay Ailen vay quá mức để chi tiêu là điều hiển nhiên. Vấn đề cốt lõi của khủng hoảng nợ công châu Âu là do sự lầm tưởng của các nhà lãnh đạo, khi cho rằng việc sử dụng đồng tiền chung euro không cần phải phối hợp chính sách kinh tế, không cần phải đặt ra vấn đề đồng nhất các khoản ngân sách chi tiêu công.

Khủng hoảng nợ công phơi bày sự rạn nứt giữa các thành viên trong khối. Đức chỉ trích Hy Lạp và Italia lỏng lẻo trong chính sách chi tiêu dẫn đến nợ nần chồn ghcất, chỉ trông chờ vào sự cứu trợ của các nền kinh tế mạnh hơn trong khối. Trong khi Hy Lạp và Bồ Đào Nha cho rằng, Đức “ích kỷ” khi áp đặt chính sách tiền tệ, mô hình tài chính của mình cho các thành viên khác có nền kinh tế yếu hơn, không có khả năng cạnh tranh cao bằng Đức. Nhưng theo ông Jaques Delors – cựu Chủ tịch Hội đồng châu Âu (EC) – người đóng vai trò quan trọng trong tiến trình đưa đồng euro vào lưu hành – cho rằng, Eurozone đã vấp phải sai lầm ngay từ khi mới “thành lập” vì bước đi trên “đôi chân khập khiễng”, chân mạnh là đồng tiền chung và chân yếu là vấn đề quản trị. Nói cách khác, việc thiếu trụ cột quyền lực trung tâm để điều phối các chính sách kinh tế là nguyên nhân khiến các thành viên rơi vào rắc rối về các khoản nợ xấu. Lỗi trong quá trình thực hiện của các nhà lãnh đạo là không xử lý những yếu kém nền tảng và sự mất cân bằng về kinh tế giữa các nước thành viên, không đặt ra vấn đề đồng nhất các khoản ngân sách chi tiêu công.

Cuộc khủng hoảng nợ công ở các nước phát triển đã phản ánh những mâu thuẫn cơ bản của nhóm các nước phương Tây. Những mâu thuẫn đó được thể hiện ra ở những điểm sau:

Một là, mâu thuẫn giữa phúc lợi quá cao và thể chế chính trị. Thể chế chính trị phương Tây coi hạt nhân là “tam quyền phân lập”, vấn đề tranh cử được đặc biệt coi trọng. Vì nhu cầu tranh cử, các ứng cử viên các đảng phái càng phải cam kết nâng cao phúc lợi. Từ sau thế chiến thứ II, phương Tây thường thực hiện chính sách phúc lợi cao, nuôi dưỡng một tập quán phúc lợi và hình thành nền văn hóa phúc lợi siêu cao. “Tính vô hạn” của văn hóa phúc lợi siêu cao và “tính cực đoan” của thể chế chính trị dân chủ hình thành mâu thuẫn gay gắt.

Hai là, mâu thuẫn giữa những hứa hẹn trnah cử và năng lực tài chính. Để thực hiện những hứa hẹn khi tranh cử, Chính phủ của các nước phương Tây buộc phải nâng cao năng lực tài chính và để nâng cao năng lực tài chính, buộc phải gia tăng thu thuế. Trong khi phần lớn các quốc gia châu Âu đều đã không còn nhiều cơ hội để tăng thuế. Tại nhiều nước thuộc châu lục này, doanh thu từ thuế đã lên tới mức 40% so với GDP.

Ba là, mâu thuẫn giữa suy thoái kinh tế và tăng thuế. Phương Tây đang có xu thế già hóa dân số, giá thành lao động ngày càng tăng, tạo ra sự rỗng hóa ngành nghề. Dự báo năm 2050, ngườI ở độ tuổi trên 60 sẽ chiếm 1/3 dân số ở các nước giàu. Trong khi tăng trưởng GDP của khu vực đồng euro đang ngày càng giảm, chỉ còn 0,2% (quý II/2011) – mức thấp nhất trong vòng 9 năm qua và dự báo sẽ còn tiếp tục giảm, trong khi đó mức thu thuế ngày càng tăng.

Bốn là, mâu thuẫn giữa việc giữ “ghế” và vay nợ. Kinh tế suy thoái khiến Chính phủ các nước phương Tây không tăng nổi thuế, song lại muốn duy trì quyền lợi của các đảng phái, do đó phải chấp nhận thâm hụt ngân sách. Để giữ được ghế thì Chính phủ buộc phải đi vay nợ, nợ ngày chồng ngày, năm chồng năm, nợ ngày càng nhiều đã tạo ra cuộc khủng hoảng nợ.

Năm là, mâu thuẫn giữa khắc phục khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế, rối loạn xã hội. “Giảm thâm hụt tài chính” qua giảm chi nhu cầu xã hội dẫn tới sự phản kháng của quần chúng, tiêu dùng cũng giảm mạnh, khiến kinh tế càng thêm suy thoái, thất nghiệp gia tăng, từ đó tác động ngược trở lại, dẫn đế thuế thu giảm, thâm hụt tài chính tiếp tục tăng. Các cuộc biểu tình, bạo loạn chống đối ở các nước phương Tây đang bùng lên mạnh mẽ.

Sáu là, mâu thuẫn giữa mong muốn cứu giúp và cái giá cứu giúp của các nước (Đức, Pháp…). Khi nợ tăng quá cao, tự thân các nước không thể giải quyết được buộc phải cầu cứu sự giúp đỡ của các nước và các tổ chức quốc tế. Mặc dù rất muốn cứu đồng euro, song cả Đức và Pháp cũng rất cần lá phiếu ủng hộ của người dân. Đây là nguyên nhân khiến cả Đức và PHáp đều “lực bất tòng tâm”.

Bảy là, mâu thuẫn giữa thể chế ngân hàng châu Âu với phương thức giải quyết nợ bằng tiền tệ hóa. Đức không cứu giúp được, các ngân hàng châu Âu cũng không thể thông qua việc tiền tệ hóa để giải quyết tình trạng cấp bách. Hành động này có thể dẫn đến tình trạng hỗn loạn bởi các nước vay nợ đua nhau tăng “mức tiền tệ hóa”. Điều này chỉ có Anh và Mỹ (những quốc gia có đồng tiền tự chủ) có thể làm được. Nghĩa là, thúc đẩy chính sách nới lỏng định lượng (QE – Quantitative Easing – Các Ngân hàng trung ương sẽ nới lỏng định lượng bằng cách in tiền và ghi nợ vào tài khoản mình. Vì Ngân hàng trung ương (NHTW) có xu hướng thiết lập lãi suất thấp để khuyến khích chi tiêu. Lãi suất càng thấp thì chi phí đi vay càng thấp, từ đó kích thích vay mượn và chi tiêu), phát hành trái phiếu để trả cho ngân hàng các khoản nợ đã đến hạn. Làm như vậy, một mặt có thể đẩy tai họa nợ sang các nền kinh tế mới nổi, mặt khác, sau một vài năm ngân hàng sẽ lại công bố miễn trừ nợ chính phủ, hoặc kéo dài chuyển thành nợ dài hạn để đời sau thanh toán.

Tám là, mâu thuẫn về nhu cầu tiền vốn giữa các nước vay nợ và các ngân hàng. Không chỉ nhu cầu cần tiền vốn của các nước nợ ở phương Tây lên cao mà nhu cầu tiền vốn của hệ thống ngân hàng ở các nước này cũng đang rất cần thiết.

Chín là, mâu thuẫn về quyết định để các nước nợ cao phá sản và việc phá sản sẽ được giải quyết thế nào? Nếu không giải quyết được mâu thuẫn này sẽ khiến vấn đề càng thêm trầm trọng. Cuối cùng dẫn đến càng có nhiều nợ cao bị phá sản.

Mười là, mâu thuẫn giữa thể chế tiền tệ và thể chế tài chính khu vực đồng euro. Không muốn có “các nước nợ cao bị phá sản” và “giải quyết việc phá sản của các nước nợ”, khu vực đồng euro liệu có thể tiến thêm một bước để thành lập “quốc gia châu Âu”? Đồng euro tượng trưng cho thể chế tiền tệ khu vực đồng euro. “Quốc gia châu Âu” tượng trưng cho thể chế tài chính khu vực đồng euro. Đức sẽ không chấp nhận “quốc gia châu Âu” bởi Đức không muốn thanh toán nợ cho các nước có vay nợ cao như Hy Lạp, Ailen, Bồ Đào Nha… Trong khi Hy Lạp cũng không chấp nhận thể chế này bởi không muốn phụ thuộc.

Trong những mâu thuẫn trên thì mâu thuẫn giữa phúc lợi siêu cao và thể chế chính trị của phương Tây là mâu thuẫn cơ bản nhất. Nếu phương Tây không giải quyết được vấn đề “dân chủ hóa cực đoan” trong thể chế chính trị và “chủ nghĩa nghĩa phúc lợi siêu cao” trong văn hóa thì khó có thể giải quyết được các mâu thuẫn trên.

****

Tóm lại, tuy có sự khác nhau trong quan niệm về nợ công ở mỗi quốc gia, song về bản chất, nợ công chính là khoản tiền mà Chính phủ (cả ở cấp Trung ương và địa phương) đi vay để bù đắp thâm hụt ngân sách do chi tiêu công tăng lên.

Nợ công không hẳn là vấn đề đáng lo ngại đối với nền kinh tế quốc dân. Chính nợ công là một nguồn lực để thúc đẩy tăng trưởng. Nhưng nếu quản lý nợ công không tốt, sử dụng nguồn lực nợ công không hiệu quả, làm khối lượng nợ công công ngày càng tăng, sẽ gây áp lực lên chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, đe dọa sự ổn định nền kinh tế, thậm chí dẫn đế khủng hoảng. Do vậy mọi quốc gia cần quan tâm đến việc sử dụng hiệu quả nguồn lực này và đến giới hạn an toàn của nợ công.

Để đảm bảo an toàn của nợ công, cần chú ý trong quản lý sử dụng, cần phân loại rõ các khoản nợ công và nguyên nhân gia tăng nợ công. Bởi lẽ mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ phát triển có nhiều lý do khác nhau đẩy tình trạng nợ công gia tăng. Và cũng chính trên các nguyên nhân cụ thể gia tăng nợ công mà có các giải pháp quản lý và xử lý nợ tương thích, bảo đảm tỷ lệ nợ công/GDP phù hợp, thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Thị Thanh Bình (cb) – Vấn đề nợ công ở một số nước trên thế giới và hàm ý chính sách đối với Việt Nam – NXB KHXH 2013.

About these ads

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s