Các vấn đề về tổ chức của phong trào Dân chủ xã hội Nga – Phần cuối


Nếu ta thừa nhận quan điểm mà Lê-nin vẫn tự nhận là của mình và chúng ta lo ngại ảnh hưởng của trí thức trong phong trào vô sản, ta có thể nhận ra không gì nguy hiểm cho đảng [Dân chủ Xã hội] Nga bằng kế hoạch tổ chức của Lê-nin. Không gì chắc chắn biến một phong trào lao động non trẻ thành nô dịch của một nhóm tinh hoa trí thức khao khát quyền lực bằng cái lạt trói quan liêu này, cái sẽ đông cứng phong trào và biến nó thành một cái máy do Uỷ ban Trung ương điều khiển. Mặt khác, không có cách bảo đảm chống lại mưu đồ cơ hội chủ nghĩa và tham vọng cá nhân nào hữu hiệu hơn hành động cách mạng độc lập của giai cấp vô sản, mà kết quả của nó là người công nhân giác ngộ được ý thức về trách nhiệm chính trị và tự tin vào chính mình.

Cái mà hôm nay chỉ là bóng ma đang ám ảnh tưởng tượng của Lê-nin có thể trở thành hiện thực trong nay mai.

Chúng ta chớ nên quên rằng cuộc cách mạng sắp nổ ra ở Nga sẽ là một cuộc cách mạng tư sản chứ không phải vô sản. Điều này làm thay đổi triệt để toàn bộ các điều kiện về đấu tranh giai cấp. Cũng như vậy, các trí thức Nga sẽ nhanh chóng thấm nhuần ý thức hệ tư sản. Phong trào Dân chủ Xã hội tại thời điểm này là kim chỉ nam cho giai cấp vô sản Nga. Nhưng vào ngày hôm sau của cách mạng, chúng ta sẽ thấy giai cấp tư sản và quan trọng hơn cả là quần chúng tư sản như là viên đá lót đường đi tới sự thống trị của họ.

Ván bài của những tay mị dân tư sản sẽ trở nên dễ dàng hơn nếu vào giai đoạn hiện nay, sự phát triển ý thức chính trị, chủ động, hành động nội sinh của các bộ phận tiến bộ của giai cấp công nhân bị ngăn trở và bị hạn chế bởi sự bảo hộ của một Uỷ ban Trung ương độc tài.

Quan trọng hơn nữa là sai lầm căn bản của ý tưởng nằm sau kế hoạch của chủ nghĩa tập trung vô độ – cái ý tưởng cho rằng con đường dẫn tới chủ nghĩa cơ hội có thể được ngăn chặn nhờ các điều khoản trong điều lệ đảng.

Chịu ấn tượng bởi những gì đang diễn ra gần đây trong các đảng xã hội chủ nghĩa ở Pháp, Ý, và Đức, các nhà Dân chủ Xã hội Nga có khuynh hướng coi chủ nghĩa cơ hội như một thành phần xa lạ, được đưa vào phong trào lao động bởi các đại diện của nền dân chủ tư sản. Nếu đúng như thế, các điều khoản xử lý vi phạm quy định bởi điều lệ đảng không thể nào ngăn chặn sự xâm nhập này. Sự thâm nhập của các thành viên phi vô sản là một hiệu ứng có những nguyên nhân xã hội sâu xa, như sự suy sụp về kinh tế của giai cấp tiểu tư sản, sự phá sản của chủ nghĩa tự do tư sản, và sự suy đồi của nền dân chủ tư sản. Thật là ngây thơ khi
hy vọng ngăn chặn trào lưu này bằng một công thức được viết trong điều lệ.

Một bản nội quy có thể chi phối cuộc sống của một chi phái nhỏ hay một hội tư nhân. Tuy nhiên, một trào lưu lịch sử sẽ chảy xuyên qua tất cả mọi mắt lưới dệt nên từ những cụm từ tinh vi nhất. Lại sai lầm hơn nữa khi cho rằng cự tuyệt các phần tử bị đẩy vào phong trào xã hội chủ nghĩa do sự mục nát của xã hội tư sản là bảo vệ quyền lợi của giai cấp cần lao. Phong trào Dân chủ Xã hội luôn luôn khẳng định rằng nó đại diện không chỉ cho quyền lợi giai cấp của giai cấp vô sản mà còn cho nguyện vọng tiến bộ của toàn thể xã hội đương thời. Nó đại diện cho quyền lợi của tất cả những ai bị đè nén dưới quyền thống trị tư sản. Điều đó không thể chỉ được hiểu theo cách cho rằng tất cả những quyền lợi này được bao hàm một cách trọn vẹn trong cương lĩnh xã hội chủ nghĩa. Tiến hoá lịch sử chuyển hoá một định đề cho trước thành hiện thực. Trong khả năng của mình với tư cách là một chính đảng , phong trào Dân chủ Xã hội trở thành nơi quần tụ tất cả các phần tử bất mãn trong xã hội và do đó của toàn thể nhân dân, trong sự đối lập với thiểu số ít ỏi các ông chủ tư bản.

Nhưng những người xã hội chủ nghĩa luôn phải biết làm thế nào để đưa nỗi khổ cực, đắng cay và niềm hy vọng của tập hợp đa dạng này vào quỹ đạo hướng theo mục tiêu tối thượng của giai cấp cần lao. Phong trào Dân chủ Xã hội phải quây kín sự hỗn độn của các phần tử phi vô sản chống đối lại xã hội đương thời vào trong phên dậu của hành động cách mạng vô sản. Nó nhất định phải đồng hoá các phần tử đến với nó.

Điều này chỉ có thể khả thi nếu phong trào Dân chủ Xã hội đã có được một hạt nhân vô sản được giáo dục về chính trị, vững chãi, có đủ ý thức, như đã phát triển như ở Đức hiện nay, để lôi kéo vào quỹ đạo của nó các phần tử tiểu tư sản và mất địa vị xã hội gia nhập đảng. Trong trường hợp này, áp dụng nguyên lý tập trung hoá một cách chặt chẽ hơn và thiết lập kỷ luật nghiêm ngặt hơn, được quy định một cách đặc biệt trong điều lệ của đảng, có thể là một sự hộ vệ hữu hiệu chống lại mối nguy hiểm cơ hội chủ nghĩa. Đó chính là cách mà phong trào xã hội chủ nghĩa ở Pháp đã tự bảo vệ mình trước sự rối loạn của chủ nghĩa Jaures (Jauresism)[14]. Sửa đổi điều lệ trong phong trào Dân chủ Xã hội Đức theo hướng này sẽ là một biện pháp rất đúng lúc hiện nay.

Nhưng ngay cả ở đây chúng ta cũng không nên nghĩ điều lệ đảng là một vũ khí tự nó đã là đầy đủ. Nó cùng lắm chỉ là một công cụ cưỡng chế nhằm thực hiện ý chí của đa số vô sản trong đảng mà thôi. Nếu đa số này không đủ, những sắc lệnh nghiệt ngã nhất trên giấy tờ cũng sẽ không đem lại chút hiệu quả nào.

Tuy nhiên, sự thâm nhập của những phần tử tư sản vào trong đảng còn lâu mới là nguyên nhân duy nhất của các khuynh hướng cơ hội giờ đây đang ngóc đầu lên trong phong trào Dân chủ Xã hội. Một nguyên nhân nữa nằm ngay trong bản chất các hoạt động xã hội chủ nghĩa và những mâu thuẫn cố hữu bên trong nó.

Phong trào quốc tế của giai cấp vô sản hướng đến sự giải phóng hoàn toàn là một quá trình đặc biệt hiểu theo khía cạnh như sau. Lần đầu tiên trong lịch sử văn minh, nhân dân thể hiện ý chí của họ một cách có ý thức và đương đầu với tất cả các giai cấp thống trị. Nhưng ý chí này chỉ có thể được thoả mãn khi vượt lên trên giới hạn của hệ thống hiện hành.

Giờ đây quần chúng chỉ có thể giác ngộ và tăng cường ý chí này trong bối cảnh của cuộc đấu tranh hàng ngày hàng giờ chống lại trật tự xã hội đương thời – tức là, trong giới hạn của xã hội tư bản chủ nghĩa.

Một mặt, chúng ta có quần chúng; mặt khác, chúng ta có mục tiêu lịch sử của họ, cái nằm ngoài xã hội hiện hành. Một mặt, chúng ta có cuộc đấu tranh hàng ngày hàng giờ; mặt khác, chúng ta có cách mạng xã hội. Đó là những thành phần của mâu thuẫn biện chứng mà thông qua chúng, phong trào xã hội chủ nghĩa phát triển.

Do đó, phong trào này có thể tiến lên một cách tốt nhất nhờ liên tục thay đổi chiến thuật để đi vào giữa mà không sa vào hai mối nguy hiểm nó thường xuyên phải đối mặt. Thứ nhất là đánh mất tính chất quần chúng; thứ hai là từ bỏ mục tiêu của nó. Một cái là mối nguy chìm đắm trở lại trạng thái của một chi phái; còn cái kia, là mối nguy trở thành một phong trào cải lương xã hội của bọn tư sản.

Điều ấy lý giải vì sao sẽ là hão huyền, và mâu thuẫn với kinh nghiệm lịch sử, nếu hy vọng ấn định, một lần và mãi mãi, đường hướng của cuộc đấu tranh xã hội chủ nghĩa cách mạng nhờ một phương tiện chính thức, cái được kỳ vọng là bảo đảm cho phong trào lao động tránh được mọi khả năng của sự trệch đường mang tính cơ hội chủ nghĩa.

Lý thuyết Mác-xít cho chúng ta một công cụ đáng tin cậy cho phép ta nhận ra và tấn công các biểu hiện tiêu biểu của chủ nghĩa cơ hội. Nhưng phong trào xã hội chủ nghĩa là một phong trào quần chúng. Hoàn cảnh của nó không phải là sản phẩm của những mưu đồ nham hiểm của các cá nhân hay phe nhóm. Chúng nảy sinh từ những điều kiện xã hội tất yếu. Chúng ta không thể nào tự bảo đảm trước sẽ tránh được mọi khả năng trệch hướng mang tính cơ hội chủ nghĩa. Những mối hiểm nguy này chỉ có thể được khắc phục bởi chính bản thân phong trào – hiển nhiên là với sự trợ giúp của lý thuyết Mác-xít, nhưng chỉ khi những mối nguy ấy đã hiện hữu trong thực tế.

Nhìn từ góc độ này, chủ nghĩa cơ hội có vẻ như là một sản phẩm và một pha tất yếu của sự phát triển lịch sử của phong trào lao động.

Phong trào Dân chủ Xã hội Nga mới xuất hiện một thời gian ngắn gần đây. Các điều kiện chính trị mà nhờ đó phong trào vô sản đang phát triển ở Nga là khá bất thường. Ở nước này, chủ nghĩa cơ hội nhiều khả năng là một sản phẩm phụ của sự mò mẫm và thử nghiệm của các hoạt động xã hội chủ nghĩa tìm cách tiến lên trong một hoàn cảnh không giống Châu Âu chút nào.

Theo cách nhìn như thế, chúng ta vô cùng kinh ngạc với lời tuyên bố rằng có thể loại trừ mọi khả năng của chủ nghĩa cơ hội trong phong trào ở Nga bằng cách viết ra một vài câu trong điều lệ đảng, mà chẳng cần đến phương cách khác. Cái mưu toan xử trí với chủ nghĩa cơ hội bằng một hai mẩu giấy có thể trở nên vô cùng tai hại – không phải với chủ nghĩa cơ hội, mà với phong trào xã hội chủ nghĩa.

Chấm dứt nhịp đập tự nhiên của một cơ thể sống, rồi anh làm yếu nó, rồi anh thu hẹp sức đề kháng và tinh thần chiến đấu của nó, – trong ví dụ này, không chỉ chống lại chủ nghĩa cơ hội, mà còn (và điều này hiển nhiên là tối quan trọng) chống lại trật tự xã hội hiện hành. Phương tiện định dùng ấy trở lại chống lại chính cái mục đích mà họ định đạt tới.

Trong cái khao khát ưu tư quá mức của Lê-nin nhằm thiết lập một ban giám hộ của một Uỷ ban Trung ương tối cao và toàn giác để bảo vệ một phong trào lao động đang sôi nổi và đầy hứa hẹn khỏi đi lỡ bước, chúng ta nhận ra triệu chứng của cùng thứ chủ nghĩa chủ quan đã từng bày trò bịp bợp không chỉ một lần trong tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở Nga.

Thật ngộ nghĩnh khi lưu ý rằng những cú nhảy múa nhào lộn kỳ dị liên quan đến cái “ngã” con người đã phải diễn ra trong lịch sử gần đây của nước Nga. Bị hạ đo ván, gần như đã bị dìm xuống bùn bởi chính thể chuyên chế Nga, cái “ngã” báo thù bằng cách biến thành hành động cách mạng. Dưới hình thức của một uỷ ban những kẻ chủ mưu, dưới danh nghĩa một Ý chí của Nhân dân không hề tồn tại, nó tự ngồi vào một loại ngai vàng và tuyên bố nó là tối cao quyền lực. [Một tham khảo là một nhóm những kẻ chủ mưu tấn công chế độ Sa hoàng từ năm 1879 đến năm 1883 bằng các hành động khủng bố và cuối cùng đã ám sát Alexander Đệ Nhị. - phụ chú của bản tiếng Anh] Nhưng “khách thể” lại chứng tỏ là mạnh mẽ hơn. Cây roi da đã chiến thắng, vì chủ nghĩa Sa hoàng dường như là cách bảy tỏ “chính thống” của lịch sử.

Giờ đây chúng ta thấy đứa trẻ của lịch sử, xuất hiện trên sân khấu và thậm chí còn “chính thống” hơn – đó là phong trào lao động Nga. Lần đầu tiên, những nền tảng cho sự hình thành một “Ý chí của Nhân dân” thực sự được dựng nên trên mảnh đất Nga.

Nhưng ở đây lại một lần nữa là cái “ngã” của những nhà cách mạng Nga! Cắm ngược xoay tròn trên cái đầu của nó, nó lại một lần nữa tuyên bố nó chính là quan đốc chính tuyệt đỉnh quyền uy của lịch sử – lần này dưới xưng danh Quý Ngài Uỷ ban Trung ương Dân chủ Xã
hội Nga.

Anh diễn viên nhào lộn lanh lẹ đã không thể nhận thức được rằng “đối tượng” duy nhất ngày nay xứng đáng được trao vai trò đốc chính là cái “ngã” tập thể của giai cấp cần lao. Giai cấp cần lao đòi hỏi quyền phạm sai lầm rồi học hỏi từ biện chứng của lịch sử.

Cho chúng tôi nói trắng ra. Xét về mặt lịch sử, những sai lầm gây ra bởi một phong trào cách mạng chắc chắn có ý nghĩa hơn nhiều so với cái không-thể-sai-lầm của một Uỷ ban Trung ương thông minh nhất.

Phụ lục: Sơ lược tiểu sử của Rosa Luxemburg

Rosa Luxemburg sinh ngày 5 tháng Năm năm 1871 ra trong một gia đình gốc Do Thái tại Zamoshc, công quốc Ba Lan. Bà tham gia cách mạng từ khi còn rất trẻ và năm 18 tuổi đã lưu vong sang Thuỵ Sỹ nhằm tránh sự truy nã của chính quyền. Ở đây, bà tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng, đồng thời nghiên cứu Kinh tế Chính trị và Luật học. Năm 1898 bà nhận bằng tiến sỹ. Thời gian này, bà quen biết nhiều nhà cách mạng Nga, trong đó có Plekhanov. Tuy nhiên, mâu thuẫn nổ ra khi Luxemburg bất đồng về vấn đề “quyền tự quyết” cho Ba Lan. Bà cho rằng vào thời điểm này, đặt vấn đề quyền tự quyết chỉ làm cho tư sản Ba Lan trỗi dậy. Kết quả của mối mâu thuẫn này là sự phân ly của Luxemburg với cả hai Đảng XHCN Nga lẫn Ba Lan. Bà cùng các đồng chí thành lập Đảng Dân chủ Xã hội Ba Lan, trong đó bà đóng vai trò như một nhà lý luận hàng đầu.

Năm 1898 Luxemburg dời Zurich đi Berlin và gia nhập đảng Lao động Xã hội Dân chủ Đức. Giữa môi trường cách mạng mới, đang sôi sục và đầy thách thức, Luxemburg nhanh chóng khẳng định vị trí nổi trội nhờ vào ngòi bút sắc sảo và cá tính mãnh liệt của mình.

Trong thời gian này, vấn về đường lối đấu tranh và hành động đang là trung tâm của các cuộc tranh luận nảy lửa trong nội bộ đảng. Nhằm giáng trả quan điểm của Bernstein, người cho rằng các cải cách xã hội đương thời tự chúng là mục đích tối hậu của phong trào, bà công bố tác phẩm “Cải lương và Cách mạng” (1900) qua đó vạch rõ các cuộc cải cách xã hội chỉ là phương tiện của đấu tranh giai cấp, và mục đích tối hậu của cải cách xã hội phải là một cuộc cách mạng triệt để. Năm 1906 bà phát triển lý thuyết Bãi công Đại chúng (Mass Strike), coi đó là vũ khí mạnh nhất của giai cấp vô sản. Năm 1913, trước những căng thảng của châu Âu trước Thế Chiến I, Luxemburrg viết Sự tích luỹ tư bản, với tham vọng như là sự tiếp nối những phần Marx chưa kịp viết trong bộ Tư bản. Trong tác phẩm này, Luxemburg tiên đoán chủ nghĩa đế quốc quân phiệt sẽ là cái phải đến của chủ nghĩa tư bản. Khi Thế chiến I bùng nổ, bà phản đối dữ dội khuynh hướng sô-vanh XHCN đang bùng lên trong đảng. Khi mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm, bà cùng Karl Liebknecht (1871-1919) tuyên bố dời bỏ đảng và thành lập Liên đoàn Spác-ta-cút, tuyên truyền chống lại chủ nghĩa sô vanh, kêu gọi binh lính Đức thay vì ra trận, hãy quay súng lật đổ chính quyền. Bà và Karl Liebknecht bị tống giam vì tội danh sách động bạo loạn. Trong tù, bà tiếp tục viết sách tuyên truyền, xây dựng nền tảng lý luận dẫn đường cho Liên đoàn Spác-ta-cút. Đồng thời, bà cho ra đời tác phẩm nổi tiếng của mình: Cuộc cách mạng Nga, trong đó kịch liệt phê phán khuynh hướng độc tài đang hình thành nhanh chóng ở Nga sau Cách mạng Tháng Mười. Bà viết: “Đúng, phải chuyên chính! Nhưng sự chuyên chính phải bao hàm thái độ vận dụng dân chủ, chứ không phải loại trừ nó, trong những cuộc tấn công cương quyết, mãnh liệt vào các đặc quyền đặc lợi và quan hệ kinh tế của xã hội tư sản, mà không có chúng thì sự quá độ XHCN không thể nào thành công. Nhưng quyền chuyên chính này nhất định phải là công việc của giai cấp chứ không phải là một thiểu số lãnh đạo nhỏ nhoi nhân danh quần chúng – nghĩa là, nó phải thúc đẩy từng bước một sự tham gia tích cực của quần chúng; nó phải nằm trong ảnh hưởng trực tiếp của họ, chịu sự kiểm soát của hoạt động công khai triệt để; nó phải là thành quả của sự rèn luyện chính trị ngày càng lớn mạnh của quần chúng nhân dân.”

Tháng Mười Một năm 1918, chính quyền Đức phải miễn cưỡng trả tự do cho Luxemburg và các đồng chí của bà. Ngay lập tức bà cùng các đồng chí phát động các hoạt động cách mạng mới. Cuối năm 1918, bà cùng Karl Liebknecht thành lập Đảng Cộng sản Đức trong bối cảnh bạo động bắt đầu tràn lan trên đường phố vì những sách động của Liên đoàn Spác-tu-cút.

Ngày 15 tháng Một năm 1919, Luxemburg cùng các nhà lãnh đạo đảng bị bắt giữ và bị đánh đập dã man đến bất tỉnh. Không ai biết điều gì đã xảy ra trong giờ phút cuối cùng của họ. Nhiều sử gia cho rằng Luxemburg và Liebknecht bị quẳng lên xe trong trạng thái bất tỉnh, bị bắn chết và sau đó xác bị vứt xuống sông.

Người dịch: Thiết Hoa và Phùng Quang

Nguồn: Rosa Luxemburg, Revolutionary Socialist Organization, NXB Integer Press, 1934

——

Chú thích

[14] Jean Jaurès (1859-1914): nhà lý luận và hành động cấp tiến Pháp, người sáng lập báo l’Humanité. Là một người XHCN nhưng ông chưa bao giờ là một người Mác-xít, vì ông không tán thành quan điểm bạo lực của Mác. Ông ủng hộ quan điểm đấu tranh chính trị để dần dần tiến tới chế độ Dân chủ Xã hội. Ông bị một kẻ theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan ám sát vào năm 1914, trước khi cuộc Thế chiến I bùng nổ.

About these ads

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s