Kinh tế học Phật giáo – Trung đạo trong Thương trường – Phần V


Chương II: Quan điểm Phật giáo về Bản chất con người

Theo các Kinh điển Phật giáo, thì con người được sinh ra trong tình trạng vô minh. Vô minh là thiếu tri thức, và thiếu tri thức đã gây nên các vấn đề trong cuộc sống. Cái mà con người sinh ra trong vô minh và phải chịu phiền não bởi vô minh ngay từ khi chào đời sẽ trở nên rất rõ ràng khi quan sát tình cảnh của một đứa trẻ sơ sinh, nó không thể nói được, trông mong được ăn và thậm chí phải tự kiếm lấy mà ăn.

Vô minh là một giới hạn có thật trong cuộc đời, đó là một gánh nặng, một vấn đề. Trong Phật giáo, gánh nặng này được gọi là dukkha hoặc khổ. Vì con người sinh ra trong vô minh nên nó không thực sự biết phải sống như thế nào. Không có sự dẫn dắt của tri thức hoặc trí tuệ, con người chỉ đơn giản buông theo những dục vọng của mình bằng cách vật lộn trong sự dẫn dắt của dục vọng để sống còn trong một thế giới thù địch. Trong Phật giáo, dục vọng mù quáng ấy được gọi là tanha.

Tanha có nghĩa là dục, tham vọng, bất an, hoặc khao khát. Nó duyên khởi từ cảm tính và bắt nguồn từ vô minh. Bất cứ khi nào, bất cứ một loại cảm giác nào được trải nghiệm thì nó đem lại tình trạng thoả mãn hay bất mãn – như một cảnh đẹp hoặc một phong cảnh điêu tàn, hoặc một thanh âm êm dịu hay chối tai – đều được gây nên bởi một cảm giác, kể cả thoả mãn, bất mãn hay bình thường. Tanha khởi lên cùng với cảm giác: nếu cảm giác thoả mãn thì khởi lên khát vọng chiếm giữ nó; nếu cảm giác bất mãn thì khởi lên ý muốn thoát khỏi hoặc huỷ bỏ nó; nếu cảm giác trung tính thì mong manh một ái kết. Những phản ứng này là tự nhiên, chúng không đòi hỏi bất cứ một định thức hoặc tri thức đặc biệt hoặc sự hiểu biết nào. (Ngược lại nếu một suy tư nào đó cắt đứt quá trình bất cứ khi nào thì tanha có thể bị chặn đứng và quá trình lại được khơi thông thành một dạng mới.

Vì tanha quá gắn bó với cảm tính nên nó có xu hướng tìm bằng được những vật đem lại cảm giác thoả mãn, cơ bản gồm có 6 loại cảm giác: cảnh sắc, âm thanh, mùi, vị, xúc giác và tình cảm. Nổi bật nhất của những loại cảm giác này là 5 cảm giác đầu, được biết như là ngũ khoái. Sáu đối tượng cảm giác và đặc biệt là 5 đối tượng đầu là những thứ mà tanha tìm cho ra và ấn định chúng. Trong bối cảnh đó, định nghĩa của chúng ta về tanha có thể được mở rộng: tanhalà dục vọng về các đối tượng cảm giác, là những thứ có thể đem lại khoái cảm hoặc dục vọng về các cảm giác khoái lạc. Nói tóm lại tanha có thể được gọi là muốn sở hữu hoặc muốn giành được.

Cách thức hoạt động của tanha có thể nhìn thấy rất rõ trong các nhu cầu cơ bản về đồ ăn. Mục đích sinh học của ăn là để nuôi dưỡng cơ thể, cung cấp cho nó sức mạnh và sự an lạc. Chiếm chỗ nhu cầu sinh học này là mong muốn tận hưởng, mong muốn thoả mãn vị giác. Đó chính là tanha. Đôi khi dục vọng của tanha có thể hoàn toàn lạc lõng khỏi sự an lạc, và thậm chí có thể có hại đối với chất lượng sống. Nếu chúng ta bị tanha áp đảo khi ăn chứ không phải là ăn vì mục đích nuôi dưỡng cơ thể và đem lại sự an lạc, thì có nghĩa là chúng ta ăn để nếm trải khoái cảm. Kiểu ăn như vậy sẽ không có tận cùng và có thể dẫn đến những vấn đề cho cả cơ thể lẫn trí tuệ. Đồ ăn có thể ngon miệng, nhưng chúng ta có thể phải chịu khổ vì chứng khó tiêu hoặc tình trạng béo phì. Trong một mức độ lớn, chi phí xã hội cho việc tiêu thụ quá mức, chẳng hạn như việc kiệt quệ các nguồn tự nhiên và chi phí cho chăm sóc sức khoẻ, mà chưa nói đến tội ác, phá sản và các cuộc chiến tranh đã là một khoản khổng lồ.

Kinh tế học hiện đại và Phật giáo đều nhất trí rằng nhu cầu của con người là không có giới hạn. Như Đức Phật dạy: “Không có dòng sông nào giống như dòng sông dục” [Dh. 186], các dòng sông thỉnh thoảng vẫn tràn đầy đôi bờ, nhưng nhu cầu của con người thì lại không bao giờ đổ đầy được. Cho dù tiền có rơi từ trời xuống như mưa thì dục vọng của con người vẫn không bao giờ được thoả mãn [Dh. 251]. Đức Phật còn dạy rằng ngay cả khi người ta có thể làm phép biến một ngọn núi thành hai ngọn núi vàng thì nó vẫn không làm cho một con người mãn nguyện dài lâu [S.I. 117]. Trong truyền thống Phật giáo còn có vô số lời dạy nói về bản chất không cùng của nhu cầu con người. Tôi chỉ muốn liên hệ với một câu chuyện được kể trongJataka Tales [J.II.310].

Ngày xửa ngày xưa có một vị vua tên là Mandhatu. Ông là một người cai trị, một hoàng đế đầy sức mạnh và sống rất lâu. Mandhatu có toàn bộ vật dụng, của cải của một vị hoàng đế; chỉ duy nhất ông vua này mới có mọi thứ mà ai cũng phải thèm muốn: ông làm hoàng tử 84.000 năm, thái tử 84.000 năm và sau đó làm hoàng đế 84.000 năm.

Một ngày kia, sau khi đã ở ngôi 84.000 năm, vua Mandhatu bắt đầu cảm thấy buồn chán. Số tài sản khổng lồ mà ông có cũng không làm cho ông mãn nguyện. Các triều thần thấy có một điều gì đó bất ổn và hỏi điều gì đã làm cho Hoàng đế không vui. Ông đáp “Của cải và khoái lạc mà ta có được chỉ là chuyện vặt. Hãy nói cho ta biết có bất cứ nơi nào cao hơn nơi này không? “Trên trời, thưa Bệ hạ!” – các cận thần đáp. Ngay lập tức một  báu vật của nhà vua làcakkaratana, (Bảo luân xa) một bánh xe có phép thuật có thể đưa nhà vua đi bất cứ nơi đâu ông muốn đã được chuẩn bị sẵn sàng. Vậy là Vua Mandhatu đã sử dụng nó để lên Trời của Tứ đại Thiên vương. Tứ đại Thiên vương đích thân ra đón chào nhà vua, nghe vua kể về mong ước của mình, đã mời ông tiếp quản toàn bộ cõi Trời của họ.

Vua Mandhatu thống trị Trời tứ đại thiên vương trong một thời gian rất dài, cho đến một ngày kia ông lại bắt đầu cảm thấy chán nản. Lạc thú và của cải của cõi Trời ấy vẫn không làm cho nhà vua mãn nguyện. Ông bàn bạc với quần thần và nghe nói có những lạc thú lớn hơn trên cõi trời Đao Lợi (Tavatimsa, Pali- Trayastrmsa, Phạn). Thế là vua Mandhatu lại lấy bánh xe pháp của ông để lên cõi trời Tavatimsa. Tại đây, Đế Thích đã lập tức tặng ông một nửa Cõi trời của mình.

Nhà vua cùng Đế Thích cai trị cõi trời trong một thời gian dài, đến khi Đế Thích thành công quả và được thay bằng một Tân Đế thích. Tân Đế thích trị vì cõi trời Đao Lợi được một nửa thời gian. Tất cả có 36 Đế Thích đến và đi, trong khi vua Mandhatu vẫn hưởng lạc thú trong cõi của mình.

Cuối cùng ông bắt đầu cảm thấy bất mãn – một nửa cõi trời không đủ, ông muốn cả cõi. Thế là vua Mandhatu lập mưu giết Đế Thích để thay thế ông. Nhưng con người không thể giết được Đế Thích, vì người trần không giết được người trời, vậy là ông không toại nguyện. Sự bất lực không thoả mãn được dục vọng đã bắt đầu làm chết dần chết mòn chính cái cội rễ của ông và làm cho ông bắt đầu già nua.

Bỗng ông rơi khỏi cõi trời Đao Lợi xuống đến đất. Ông rơi vào một vườn cây ăn trái đang vang động tiếng đấm đá. Khi những người làm trong vườn nhận thấy một nhà vua vĩ đại đã tới, một số người đã bắt đầu lên đường đi báo cho Hoàng cung còn những người khác thì tức tốc làm cho ông một chiếc ngai tạm thời để ông ngồi. Lúc đó nhà vua đã gần kề cái chết.  Hoàng gia đến, nhìn thấy và hỏi xem ông có trăng trối điều gì không. Nhà vua tuyên bố về sự vĩ đại của mình. Ông nói với họ về cái quyền lực vĩ đại và số của cải mà ông đã có trên trái đất, nhưng cuối cùng phải thừa nhận rằng khát vọng của ông vẫn không thành. Câu chuyện về Vua Mandhatu chỉ có như vậy. Nó cho thấy Phật giáo chia sẻ với kinh tế học quan điểm rằng nhu cầu của nhân loại là bất tận.

Xung đột và Hài hòa

Trong cuộc cạnh tranh cho những dục vọng mù lòa và vô minh của mình, con người đã không sáng tỏ được cái gì là lợi lạc chân chính và cái gì là lậu hoặc trong cuộc đời mình. Họ không biết được cái gì dẫn họ tới lợi lạc, cái gì cuốn họ vào vòng xoáy lậu hoặc. Chìm đắm trong vô minh, con người chỉ có thể nuôi dưỡng các dục vọng của mình. Trong gắng gỏi tuyệt vọng đó, con người đôi khi vẫn sáng tạo ra không ít lợi lạc, nhưng đôi khi họ lại hủy hoại các lợi lạc đó. Nếu có tạo ra được các lợi lạc thì đó cũng chỉ là ngẫu nhiên so với mục đích chính yếu của họ, còn trong hầu hết các trường hợp, để thỏa mãn dục vọng, người ta gây hại vô số cho cuộc sống. Vì tranh giành nhau, và tranh giành thế giới xung quanh mình để thỏa mãn các dục vọng, con người đã tạo ra sự xung đột liên miên với chính mình, với các xã hội của mình, và với cả môi trường tự nhiên. Có những xung đột về lợi ích; một cuộc sống bị vô minh dẫn dắt thì chứa đầy bất hòa và xung đột.

Nếu có bất cứ điều gì đối với bản chất của con người cần phải xem xét dưới góc độ kinh tế thì đó chính là việc con người không quá khác biệt với các loài động vật mà thậm chí có lẽ còn xấu hơn vì chúng ta đặc biệt có tài trong việc theo đuổi các hành vi có hại cho sự thịnh vượng chân chính của thế giới. Rất may là con người còn có nhiều phẩm chất khác nữa. Phật giáo dạy rằng con người có khả năng thiên bẩm để phát triển. Trong khi Phật giáo chấp nhận một thực tế là con người luôn luôn khát khao chiếm hữu ngoại giới thì nó cũng thừa nhận rằng con người còn khát khao đối với chất lượng cuộc sống hoặc sự thịnh vượng chân chính, khát vọng tự hoàn thiện và vươn tới cái thiện. Điều đó chỉ xuất hiện khi cuộc sống đã thoát khỏi vô minh, tránh được sự cám dỗ của dục vọng. Các vấn đề dục vọng của con người có thể được giải quyết bằng cách vươn tới tri thức. Vì vậy sự phát triển của con người thực sự gắn chặt với sự phát triển của tri thức. Trong Phật giáo, loại tri thức đó được gọi là Bát Nhã (pañña) – Tuệ.

Khi vô minh được thay bằng tuệ thì người ta có thể phân biệt được cái gì là lợi lạc chân chính, cái gì không. Trong ánh sáng của Tuệ, các dục vọng sẽ tự nhiên trở thành khát vọng đem lại lợi lạc. Trong Phật giáo khát vọng đạt tới lợi lạc chân chính được gọi là dhammachanda (Pháp dục – khát vọng chân chính), kusalachanda (Thiện dục), hoặc nói một cách ngắn gọn làchanda.

Mục tiêu của chanda là dhamma (Pháp) hoặc kusaladhamma (Thiện xảo pháp), chân lý và cái thiện. Chân, thiện phải đạt được thông qua sự nỗ lực hành trì, vì vậy chanda hướng tới hành động, đối lập với tanha hướng tới tìm kiếm. Chanda hiện khởi từ yoniso-manasikara(tuệ quán), cũng đối lập với tanha là một phần của dòng phản ứng vô minh tiềm thức.

Tóm lại:

1. Tanha được dẫn dắt hướng tới cảm xúc; nó dẫn người ta tới tìm kiếm các đối tượng để cố thỏa mãn các lợi ích của bản thân và bị vô minh đưa dẫn.

2. Chanda được dẫn dắt hướng tới lợi lạc, dẫn tới nỗ lực và hành động, và được đặt cơ sở trong nội quán.

Khi trí huệ thăng tiến, chanda bắt đầu chiếm ưu thế trong khi dục vọng vô minh của tanhanmất đi sức mạnh của nó. Bằng tu tập và tự tinh tiến, chúng ta ngày càng bớt vô minh và tanhangày càng chịu sự kiểm soát của trí huệ và chanda. Điều đó dẫn đến một cuộc sống thiện xảo hơn, tinh tiến hơn và mối quan hệ với ngoại giới càng trở nên gắn bó.

Với trí huệ và chanda, chúng ta không còn nhìn cuộc sống bằng nhãn kiến xung đột lợi ích nữa. Thay vào đó, chúng ta không ngừng làm cho cuộc sống trở nên hài hòa hơn giữa lợi ích của cá nhân con người, lợi ích của xã hội với lợi ích của tự nhiên. Xung đột lợi ích trở thành hài hòa lợi ích. Điều đó trở thành hiện thực bởi vì cuối cùng một cuộc sống lợi lạc thực sự chỉ có thể thành tựu khi cá nhân, xã hội và môi trường phục vụ lẫn nhau. Nếu có xung đột giữa bất cứ quyển nào thì kết quả sẽ là những vấn đề xảy ra cho tất cả các quyển đó.

(còn tiếp)

Người dịch: Hà Hữu Nga

Nguồn: Buddhist Economics – A Middle Way for the Market place by Ven. P.A. Payutto. Translated into English by Dhammavijaya and Bruce Evans; Compiled by Bruce Evans and Jourdan Arenson. http://www.buddhanet.net/cmdsg/payutto.htm.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s