Kinh tế học Phật giáo – Trung đạo trong Thương trường – Phần VI


Đạo đức và hai loại dục

Như chúng ta đã thấy, Phật giáo thừa nhận có hai loại nhu cầu khác nhau: 1) tanha, là loại dục vọng đối với những sự vật thoả mãn khoái lạc 2) chanda, là loại khát vọng thoả mãn niềm vui, hạnh phuc đích thực. Tanha dựa vào sự mê muội, trong khi đó chanda dựa vào trí tuệ và vì vậy nó là một phần của tiến trình giải quyết vấn đề.

Cả tanha và chanda đều dẫn đến sự thoả mãn, nhưng là những loại thoả mãn khác nhau. Khi đưa ra ví dụ về hành động ăn, con người bị dẫn dắt bởi tanha sẽ tìm cách để thoả mãn sự thèm muốn khoái lạc cảm giác mà trong trường hợp này là sự thèm muốn về vị giác. Ở đây sự thoả mãn nảy sinh từ việc trải nghiệm mùi vị của thức ăn. Nhưng khi được hướng dẫn bởichanda, thì các thèm khát được định hướng để tạo ra sức khoẻ. Chúng ta không bị bắt buộc phải ăn quá no nê, hoặc ăn những loại thức ăn khiến cho chúng ta phát ngấy vì vị ngon của nó. Thay vào đó, chúng ta ăn để thoả mãn cơn đói và để nuôi cơ thể. Ở đây trạng thái thoả mãn nảy sinh từ niềm tin chắc rằng cơ thể khoẻ mạnh nhờ ăn uống. Chúng ta thưởng thức món ăn nhưng không phải theo cách dẫn đến hối hận, ăn năn.

Chanda dẫn đến hiệu quả và hành động dựa trên tri thức và tư duy rõ ràng. Ngược lại tanhadẫn đến việc kiếm tìm mù quáng dựa trên vô minh. Cả hai loại dục vọng nội tại này đều thúc đẩy hành vi, nhưng với những hệ quả đạo đức hoàn toàn khác biệt nhau. Trong Phật giáo, giá trị đạo đức của hành vi có thể được xét đoán bằng việc nó được thúc đẩy bởi tanha (trên bề mặt) hay chanda (trong nội tâm) và bởi vô minh hay trí huệ. Khi xem xét giá trị đạo đức của hành vi kinh tế, chúng ta phải xác định loại trạng thái tinh thần nào thúc đẩy nó. Khi lòng tham (tanha) điều khiển các quyết định kinh tế thì về phương diện đạo đức hành vi có khuynh hướng vụng về. Nhưng nếu khát vọng được chanda hạnh phúc thúc đẩy thì về phương diện đạo đức, hành vi mang tính khôn ngoan. Bằng cách định giá hành vi kinh tế theo cách đó, chúng ta nhận ra các trạng thái tinh thần, hành vi đạo đức và hành động kinh tế gắn chặt với các mối quan hệ nhân quả.

Đối với một Phật tử, hành vi kinh tế phải là phương tiện cho một cuộc sống lương thiện. Sản xuất và tiêu thụ và những hành vi kinh tế khác không phải là những cứu cánh tự thân; chúng chỉ là phương tiện và cứu cánh phải đến là sự phát triển của hạnh phúc bên trong mỗi cá nhân, bên trong mỗi xã hội và bên trong mỗi môi trường.

Trái ngược với quan niệm sai lầm cho rằng Phật giáo chỉ dành cho những kẻ thoát ly cuộc sống, các Phật tử thừa nhận rằng đạt tới sự thịnh vượng là một trong những hành vi cơ bản của cuộc sống, và Đức Phật đã dạy nhiều về con đường đúng đắn để đạt được sự thịnh vượng. Nhưng chúng ta luôn luôn nhấn mạnh rằng mục đích của sự thịnh vượng là tạo điều kiện cho sự phát triển tiềm năng con người một cách cao nhất. Trong Phật giáo có nói tới ba cái đích trong cuộc sống: sự khởi đầu, trung đích và cái đích tối hậu. Cái đích khởi đầu là sự thuận lợi về vật chất một cách hợp lý và an ninh về kinh tế. Tuy nhiên an ninh vật chất chỉ là một nền tảng cho hai cái đích trừu tượng hơn và cao hơn – đó là sự an lạc tinh thần và trạng thái giải thoát.

Hầu hết mỗi đời người đều dành cho công việc mưu sinh. Nếu kinh tế học có bất cứ vai trò nào có thể sắm được trong việc giải quyết vấn đề con người thì toàn bộ các hoạt động kinh tế – sản xuất, tiêu thụ, lao động và tiêu tiền phải đóng góp vào niềm an lạc và hiện thực hoá các tiềm năng cho một cuộc sống lương thiện và đầy đủ. Đó là thứ mà chúng ta có thể làm. Thực chất của kinh tế học Phật giáo nằm ở đây, trong việc đảm bảo rằng hành động kinh tế làm tăng tiến chất lượng cuộc sống của chúng ta.

Những cân nhắc đạo lý trong hoạt động kinh tế

Một nguyên tắc cơ bản của kinh tế học hiện đại là người ta sẽ chỉ đồng ý bỏ ra một cái gì đó khi họ có thể đổi lấy một cái gì khác mà họ cảm thấy công bằng hoặc thoả mãn. Nhưng nguyên tắc này chỉ cân nhắc sự thoả mãn xuất phát từ việc làm chủ các hàng hoá vật chất. Đôi khi chúng ta có thể trải nghiệm ý nghĩa thoả mãn bằng cách chia sẻ cái gì đó mà không hề nhận lại bất cứ cái gì hữu hình như khi bố mẹ cho con cái mình những món quà: vì tình yêu thương mà họ dành cho con cái, nên họ cảm thấy thoả mãn hơn cả việc họ nhận lại được một cái gì đó. Nếu con người có thể trải rộng tình yêu thương của mình đến tất cả những người khác chứ không phải là hạn chế nó trong phạm vi gia đình riêng của họ thì họ có thể chia sẻ những thứ gì đó mà không nhận lại bất cái gì, và cảm thấy thoả mãn hơn khi làm như vậy. Sự thoả mãn này không phải xuất phát từ khát vọng có được mọi vật để làm cho họ sướng khoái (tanha), mà từ một khát vọng đem lại hạnh phúc cho những người khác (chanda) [*].

Một nguyên tắc kinh tế khác khẳng định rằng giá trị của hàng hoá được xác định bởi nhu cầu. Nguyên tắc này được minh hoạ một cách kinh điển bằng câu truyện về hai người thuỷ thủ bị đắm tàu dạt lên một hoang đảo: một người có một bao gạo còn người kia thì có một trăm hạt chuỗi vàng. Thông thường chỉ cần một hạt chuỗi vàng là đủ, quá đủ để mua toàn bộ bao gạo. Nhưng giờ đây hai người đều nhận ra rằng họ đã bị mắc kẹt trên hòn đảo mà không có cách gì thoát ra được và không có gì đảm bảo rằng họ sẽ được cứu thoát khỏi hoang đảo. Vậy là giá trị của hàng hoá đã thay đổi. Giờ đây người có gạo có thể đòi tất cả một trăm hạt chuỗi vàng cho một phần gạo của anh ta, hoặc anh ta có thể từ chối trao đổi với bất cứ giá nào.

Tuy nhiên vấn đề đạo đức lại không xuất hiện trong cuộc thảo luận này. Các nhà kinh tế học có thể khẳng định rằng bản thân kinh tế học chỉ quan tâm đến nhu cầu, mà không quan tâm đến phẩm chất đạo đức của nó, nhưng thực tế thì những cân nhắc về phương diện đạo đức lại thực sự tác động đến cầu. Trong ví dụ hai người đàn ông đắm tàu còn có những khả năng khác bên cạnh việc trao đổi. Người có vàng có thể ăn trộm gạo khi chủ nó không để ý, hoặc anh ta có thể giết chết người kia để chiếm lấy toàn bộ bao gạo. Mặt khác, hai người cũng có thể trở thành bạn và giúp đỡ lẫn nhau, chia sẻ cho nhau cho đến những hạt gạo cuối cùng mà không hề nảy sinh nhu cầu mua bán ở đây.

Trong thực tiễn đời sống có thể xảy ra bất cứ trường hợp nào đó trong số các trường hợp trên. Các yếu tố như đạo đức cá nhân hoặc những loại tình cảm như lòng tham và nỗi khiếp sợ cũng có thể tác động đến kết quả kinh tế. Một nhu cầu không dừng lại ở tội ác hoặc hành vi ăn trộm sẽ nảy sinh những kết quả khác nhau từ người nhận ra những kiềm chế về mặt đạo đức.

Có một cách để đánh giá phẩm chất đạo đức của hoạt động kinh tế là nhìn vào các hiệu quả mà nó gây ra ở cả ba cấp: ở cấp độ tiêu dùng cá nhân; ở cấp độ xã hội và ở cấp độ môi trường. Chúng ta hãy trở lại ví dụ về cái chai whiskey và bữa cơm Tàu. Rõ ràng là mặc dù những giá cả thị trường của chúng có thể như nhau, nhưng các chi phí kinh tế lại không ngang bằng nhau. Chai whiskey có thể làm hại sức khoẻ của người uống, buộc anh ta phải chi tiền điều trị thuốc men. Nhà sản xuất whiskey có thể để cho mùi hôi thối của quá trình sản xuất bay vào không khí. Sự ô nhiễm này có những tác động trở lại về phương diện kinh tế, buộc chính phủ phải tiêu tốn các nguồn lực cho việc làm sạch môi trường. Hơn nữa một người uống và chịu đựng một dư vị khó chịu sẽ làm việc một cách thiếu hiệu quả, hoặc anh ta bị say và đâm xe, phải chịu những phí tốn kinh tế lớn hơn. Sau đó sinh ra những hiệu quả xã hội bất lợi: uống rượu có thể làm nảy sinh thêm tội ác, làm tổn hại thêm nhiều cho xã hội.

Dù có những vấn đề về đạo đức, nhưng tất cả họ đều có khía cạnh kinh tế. Họ ngụ ý về nhu cầu thiết yếu của việc nhìn vào các chi phí kinh tế trên một phạm vi rộng lớn hiện thời – không chỉ trong khuôn khổ của các mức giá cả thị trường. Ngày nay có một khuynh hướng tính cả các chi phí môi trường trong các bảng quyết toán kinh tế. Một số nhà kinh tế vẫn gộp chúng vào trong chi phí thành phẩm. Nhưng điều này là không đủ. Trong trường hợp chai whiskey, ngoại trừ các chi phí môi trường, vẫn còn các chi phí về xã hội, đạo đức và sức khoẻ – việc sản xuất không có hiệu quả, các tai nạn xe hơi, bệnh gan, tội ác – tất cả đều có những dính líu về phương diện kinh tế [**].

Một phương pháp thứ hai để đánh giá chất lượng đạo đức của hoạt động kinh tế là xác định loại dục vọng nào là cội nguồn của nó. Những hoạt động kinh tế phi đạo đức nhất là các hoạt động nuôi dưỡng tanha trong khi lại làm sói mòn cơ sở của hạnh phúc. Các ngành thương mại thuốc lá, thuốc phiện và gái điếm là những ví dụ về các hoạt động kinh tế có hại chỉ nhằm hướng tới việc thoả mãn khoái lạc.

Càng ngày con người càng bị điều khiển bởi tanha thì càng ngày họ càng huỷ hoại hạnh phúc thực sự của họ. Nguyên tắc này không chỉ được áp dụng cho những thói xấu rõ ràng, mà còn áp dụng cho tất cả mọi hoạt động kinh tế. Vì vậy trong các quyết định liên quan đến tiêu thụ, sản xuất và sử dụng công nghệ, chúng ta cần phải học cách phân biệt giữa hai loại khát vọng và phải thực hiện các lựa chọn khôn ngoan.

(còn tiếp)

Người dịch: Hà Hữu Nga

Nguồn: Buddhist Economics – A Middle Way for the Market place by Ven. P.A. Payutto. Translated into English by Dhammavijaya and Bruce Evans; Compiled by Bruce Evans and Jourdan Arenson. http://www.buddhanet.net/cmdsg/payutto.htm.

Ghi chú:

[*] Chanda, khi được hướng vào các tồn tại khác thì được gọi là thiện chí (metta), khát vọng lợi lạc chúng sinh.

[**] Theo cách hiểu trên, việc hiện nay kinh tế học chính thống chấp nhận các chi phí môi trường (vì việc theo đuổi lợi ích làm nảy sinh đe dọa hủy hoại môi trường sống) trong họat động kinh tế trong khi vẫn bỏ qua các chi phí đạo lý và xã hội (vì mối đe dọa chưa đủ để thu hút sự chú ý của con người) như một mục tiêu, thì điều đó thực sự là bất thường – một ví dụ rõ ràng về tính chủ quan trong tư duy kinh tế.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s