Vào ngày 19 tháng Ba 2003, chính quyền George W. Bush khởi động một cuộc chiến tranh “ra tay trước” để hất Saddam Hussein khỏi chiếc ghế quyền lực ở Iraq, rõ ràng với cơ sở hậu thuẫn vững chắc của người dân Mỹ. Trong những cuộc thăm dò ý kiến được tiến hành vào đầu năm đó, khoảng 2/3 dân chúng nhất quán tán thành việc sử dụng hành động quân sự để đánh đổ nhà độc tài; khi cuộc chiến được bắt đầu, tỷ lệ tán thành hành động này tăng thêm 10% nữa. Việc tán thành chiến tranh phản ánh niềm tin phổ biến rằng Hussein đã bí mật sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMDs), trái với những tuyên bố của ông ta và vi phạm các nghị quyết của Liên hợp quốc (UN). Gần 80% dân chúng Mỹ nghĩ rằng ông ta có những loại vũ khí như vậy, và gần một nửa tin rằng cá nhân ông ta có dính líu đến những cuộc tấn công ngày 11 tháng Chín 2001 vào New York và Washington. Những niềm tin này không phải vô cớ mà nảy sinh. Chúng nảy sinh là do tổng thống và những thành viên trong chính quyền của ông, những người nhất mực khẳng định rằng nguồn tin tình báo có cơ sở đã chứng minh được Iraq có những loại vũ khí này và liên tục buộc tội Hussein có liên hệ với al Qaeda và những tổ chức khủng bố khác trong những bài phát biểu trước công chúng biện minh cho hành động chiến tranh.

Tổng thống đã tận dụng sự ủng hộ của công chúng đối với cuộc chiến để giành được sự trao quyền toàn bộ từ phía Quốc hội trong việc quyết định xem liệu có nên và khi nào thì Hoa Kỳ nên đưa quân vào Iraq. Nhiều nghị sĩ Dân chủ đã đi ngược lại những nhận xét hợp lý hơn của mình để hậu thuẫn cho cái mà ta có thể gọi là “sự trao qyền cho tổng thống lớn nhất mà một Quốc hội từng thực hiện” bởi vì họ lo sợ nếu không làm như vậy sẽ chuốc lấy cơn thịnh nộ của dân chúng. Mặc dù nhiều người ủng hộ chiến tranh, song người Mỹ nói chung không sốt sắng ủng hộ hành động này lắm. Phần lớn dân chúng muốn cho phép các thanh sát viên vũ khí của Liên hợp quốc vào làm nhiệm vụ bất cứ khi nào họ cần để hoàn tất các hoạt động thanh sát trước khi bắt tay vào một cuộc đổ quân tổng lực của Mỹ vào Iraq. Một phần để đáp lại những thái độ như vậy, Colin Powell, vị bộ trưởng ngoại giao được lòng dân chúng, được cử đến Liên hợp quốc để đưa ra chứng cứ chống lại Hussein. Mặc dù đã thất bại trong việc thuyết phục Hội đồng bảo an, song Powell đã thành công trong việc dựng lên một cơ sở ủng hộ trong nước cho hành động quân sự bằng cách chi tiết hóa những báo cáo tình báo cho rằng Iraq đang giấu các vũ khí hóa học và sinh học, cũng như một chương trình phát triển vũ khí hạt nhân mà các thanh sát viên Liên hợp quốc không biết.

Sự ủng hộ của công chúng cho việc đưa quân vào Iraq tăng nhanh sau khi cuộc chiến bắt đầu (nếu như chỉ là việc mong muốn quân đội Mỹ tránh phải gặp tai họa) và leo thang sau khi giai đoạn quân sự đầu tiên chấm dứt nhanh chóng và thành công (xem Hình 10 – 1). Khi tổng thống tán dương bằng cách đáp máy bay xuống một tàu sân bay để đón chào những thủy thủ trở về từ Trung Đông, đọc diễn văn trước mặt họ trên một boong tàu đằng sau có dòng chữ hoan hỉ, nếu không muốn nói là hấp tấp: “Nhiệm vụ đã hoàn tất”, những cuộc thăm dò ý kiến cho thấy rằng khoảng 75% dân chúng ủng hộ cách giải quyết của ông đối với Iraq và 70% tán thành kết quả làm việc tổng thể của ông. Nhưng tình hình ở Iraq sau đó lại thuyên chuyển theo chiều hướng ngày càng xấu: sự sụp đổ của chế độ Hussein đã gây ra tình trạng cướp bóc và phá hoại lan tràn. Các nhóm vũ trang Iraq xung đột nhau, nhiều trong số đó công khai chống đối sự chiếm đóng của Mỹ, đã đấu tranh để lấp vào khoảng trống quyền lực mà sự sụp đổ của chế độ Hussein để lại. Những tàn dư của chế độ và những phần tử cấp tiến từ nước ngoài đã bắt đầu duy trì hoạt động chiến tranh du kích ở khu vực đô thị nhằm vào binh lính Mỹ, những người làm công tác tái thiết và cả những người Iraq hợp tác với lực lượng chiếm đóng. Hơn nữa, nhiều tháng lục soát và tìm kiếm đã cho thấy không có vũ khí giết người hàng loạt và có rất ít bằng chứng cho thấy nỗ lực nghiêm chỉnh để phát triển những loại vũ khí này. Và chế độ của Hussein được nhận thấy là chỉ có mối quan hệ hời hợt với al Qaeda và không có sự dính líu rõ ràng nào đến những cuộc tấn công ngày 11 tháng Chín cả.

 

Hình 10 – 1

 

Khi mà số thương vong của người Mỹ tăng lên, và có rất ít tiến bộ rõ ràng đi tới một nước Iraq ổn định và dân chủ, cơ sở ủng hộ của dân chúng đối với cuộc chiến và tổng thống bắt đầu xói mòn. Mặc dù việc bắt được Hussein vào tháng Mười hai 2003 đã khôi phục được phần nào uy tín của cuộc chiến lẫn tổng thống, song những vấn đề dai dẳng, được nhấn mạnh bởi những tin tức tiết lộ về việc ngược đãi tù nhân Iraq ở nhà tù Abu Ghraib và nhận thức ngày càng tăng rằng những cơ sở biện minh ban đầu của chính quyền cho cuộc chiến không có tính thuyết phục, nối lại xu hướng ngày càng đi xuống. Tính đến ngày kỷ niệm 1 năm Cuộc chiến Iraq, sự tán thành đối với tổng thống và cuộc chiến đã giảm nhẹ xuống dưới 50%, và thay vì là vũ khí đắc lực cho chiến dịch bầu cử, dòng chữ “Nhiệm vụ đã hoàn tất” trở thành một trách nhiệm pháp lý tiềm tàng đối với nỗ lực tái cử của tổng thống.

Tuy nhiên, xu hướng suy giảm trong sự ủng hộ của công chúng đối với cuộc chiến bị giới hạn bởi tính đảng phái của công chúng, sự nhận thức lệch lạc và sự thỏa ãn về việc cuộc chiến ít nhất đã loại bỏ được một tên độc tài giết người. Những người Cộng hòa tiếp tục hậu thuẫn cho cuộc chiến với những tỷ lệ chênh lệch lớn; những người Dân chủ và, ở một mức độ thấp hơn, những người độc lập đóng góp vào phần lớn tỷ lệ suy giảm (xem Hình 10 – 2). Ngay cả sau khi các quan chức đã từ bỏ cuộc tìm kiếm các loại vũ khí giết người hàng loạt vì sự vô ích của nó, thì một nửa dân chúng vẫn cho rằng có tồn tại những loại vũ khí này; và bất chấp kết quả điều tra của Ủy ban ngày 11 tháng Chín rằng không có những bằng chứng trực tiếp cho thấy Hussein có liên quan đến sự kiện ngày 11 tháng Chín, khoảng 40% dân chúng vẫn tiếp tục cho rằng ông ta có dính líu trực tiếp đến cuộc tấn công này. Những nhận thức lệch lạc này phổ biến hơn đáng kể trong những người Cộng hòa so với trong những người Dân chủ, và chúng đã giúp hạn chế được mức độ tổn hại đối với uy tín trước công chúng của tổng thống.

Với việc những người Dân chủ thông thường ngày càng hồ nghi về phạm vi thẩm quyền của chính quyền đối với cuộc chiến, nó đã trở thành một vấn đề phân cực hóa ngày càng trầm trọng trong cuộc vận động tranh cử tổng thống năm 2004. Các ứng cử viên tham gia vào một cuộc đấu tranh căng thẳng để định hình nên quan điểm của những cử tri hay dao động, không tin tưởng và lẽ phải của cuộc chiến tranh, chiến lược của tổng thống trong việc tiến hành cuộc chiến này, và ứng cử viên nào sẽ giải quyết tốt nhất những hệ quả phiền toái của nó. Những quan điểm về cuộc chiến rốt cuộc đã có một ảnh hưởng quyết định đối với lá phiếu bầu; một cuộc trưng cầu ý kiến ước lượng kết quả vào ngày bỏ phiếu cho thấy 88% số cử tri nghĩ rằng việc đưa quân vào Iraq là đáng làm đã bỏ phiếu cho Bush, trong khi 84% số người nghĩ rằng việc xâm chiếm này là không đáng làm đã bỏ phiếu cho ứng viên Dân chủ John Kerry.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s