Philippe Beraud & Jean – Louis Perrault

“Bài học là giả thiết về tính hợp lý tự thân nó là yếu”

Arrow, 1987, p68

Kinh doanh phải chăng chỉ là một việc riêng của phương Tây? Hành động kinh doanh của cá nhân phải chăng có thể quy về một tập hợp những con người được xác định hay là một hình thức tổ chức kinh tế có thời điểm trong lịch sử? Xung năng đơn lẻ, nhưng cũng là văn hóa nhóm đầu sỏ, văn hóa thị tộc hay văn hóa nhóm nhỏ, việc kinh doanh hiện thân đúng hơn trong nhân vật trung tâm được François Perroux miên tả:

“Vượt bên trên người kinh doanh, một phạm trù của chủ nghĩa tư bản, hiện lên những chức năng không thể thay thế của người thủ lĩnh kinh tế – phạm trù kinh tế phổ biến – tồn tại bất kể những nét đa dạng của lịch sử và của tổ chức xã hội (1991, p144). Tuy nhiên, đó là phạm trù kinh tế phổ biến bị người ta lờ đi những cố gắng nhằm nắm bắt cơ chế của sự phát triển. Tuy nhiên, việc vai trò của các doanh nhân bị che lấp không phải là cố hữu trong khoa kinh tế nghiên cứu về sự phát triển. Quả vậy, hình ảnh của con người kinh doanh, bị lý thuyết tân cổ điển ở cuối thế kỷ 19 đẩy vào hàng một phạm trù trừu tượng, cũng bị mất đi trong lý thuyết đó là lý do tồn tại của mình, trong khi sự đòi hỏi mới của lý trí lại tìm cách tạo cho nó một tính hợp pháp khoa học: đó là lập trường đầy nghịch lý của một lý thuyết vừa tạo lập lại vừa gạt bỏ đối tượng nghiên cứu của mình.

Khác xa với sự tế nhị về phương pháp của một Michel Foucault khôi phục bảng phả hệ trung thành của các ngôn từ, chúng tôi sẽ cố gắng, dù sao chăng nữa, điểm qua những loại hình lớn của lý thuyết kinh tế, để tìm hiểu xem cái chức năng thủ lĩnh kinh tế đó đã được cấu thành, phân hủy, rồi được cấu thành trở lại như thế nào. Xung quanh sự phân biệt giữa những động cơ của hành động kinh doanh và tính chất mối quan hệ của hành động đó, với tổ chức xã hội, chúng ta có thể tìm ra những cột mốc trong nền tảng kinh tế chính trị học của Thành quốc mà triết học Hy Lạp đã truyền lại cho chúng ta.

Theo cách đó, có thể thấy rằng cách nhìn của Platon về các thủ lĩnh, coi sứ mệnh của họ là lãnh đạo toàn thể nhóm xã hội và để đạt mục đích đó, có bổn phận “chống lại sự cám dỗ của lợi ích cá nhân và sự mê hoặc của khoái lạc”. (Denis, 1966, p21). Đối lại cách nhìn đó, Aristote đã lên án phần kinh tế học bàn về sản xuất ra của cải, coi đó là cái làm hư hỏng các hoạt động của con người khi nó được du nhập vào trong Thành quốc và là nguồn gốc sản sinh ra cái “con người ở bên ngoài tự nhiên” (Đạo đức học, sách I, chương 5, p7) sử dụng “một loại của cải và phương tiện khác mà người ta thường gọi một cách có lý là những phương tiện đầu cơ, và thứ của cải đó hình như là vô hạn” (Chính trị học, Sách I, chương 1, p34).

Sau khi Thành quốc đã trở thành quốc gia – dân tộc ở những thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản châu Âu, lý thuyết cổ điển tìm cách dung hòa doanh nhân với môi trường xã hội – văn hóa của mình bằng cách bao hàm luôn vế thứ hai là môi trường xã hội – văn hóa dưới hình thức một tối ưu tập thể, nó chỉ làm giảm bớt cái hình ảnh đặc thù của cùng một con người… (Benetti và Carteher, 1980, p13 & 95 – 98). Với cái giá đó, lý thuyết tân cổ điển chỉ còn phải làm một việc là đặt chủ thể doanh nhân của Adam Smith dưới sự hci phối của tính hợp lý tuyệt đối để phủ định dứt khoát tính chủ thể của doanh nhân và xóa sạch những dấu vết xã hội của doanh nhân. Từ sự đoạn tuyệt triệt để đó giữa kinh tế học và xã hội học đã xuất hiện một công cụ ghê gớm cảu tư tưởng, thuyết cân bằng phổ biến [là cái] đã cung cấp một cách chứng minh sự liên nhất quán của những quyết định kinh tế phân tán chỉ bằng sự vận hành của các thị trường cạnh tranh thuần túy và hoàn hảo mà thôi (Rallet, 1993, p46).

Nếu mối liên hệ xã hội, bị các nhà kinh tế học tân cổ điển làm lu mờ đi, cũng không được Keynes đưa vào trở lại, thì tác giả của “Lý thuyết phổ biến” (tức Keynes) tuy nhiên cũng xác định thế nào là một con người kinh doanh ứng xử theo cảm xúc, mà ông ta không thừa nhận là có khả năng tính toán theo lý tính một cách có hệ thống: “Xưa kia, khi các doanh nghiệp phần lớn là thuộc sở hữu của những người đã sáng lập ra chúng, hoặc của những bạn bè và người liên kết với họ, thì sự đầu tư tùy thuộc ở việc tuyển lựa đủ một số cá nhân có tính tình xung động và có đầu óc xây dựng, những người này dấn thân vào những công cuộc kinh doanh để cho cuộc sống của mình có nội dung mà không thật sự dựa vào sự tính toán chính xác về lợi nhuận dự trù sẽ thu được”. Cùng một cách như vậy mặc dù chịu ảnh hưởng của Jean – Baptiste Say, Schumpeter cho rằng ngời kinh doanh “tuân theo những động cơ khác nhau. Ở người doanh nhân đó, ý chí sức mạnh theo kiểu Nietzche, sự ham muốn lập nên một triều đại công nghiệp hay thương nghiệp cũng như niềm vui sáng tạo và chiến thắng là những cái chiếm hàng đầu, còn sự cầu lợi đối với anh ta chỉ là một cơ thứ yếu (…) Như vậy là chúng ta ở cách rất xa con người kinh tế – homo – economicus và sự cực đại hóa lợi nhuận của các nhà kinh tế học tân cổ điển”. (Breton, 1984, p250). Cuối cùng là Max Weber, một cách cương quyết hơn nhiều, quay trở lại với quan niệm của Aristote và dứt khoát bác bỏ sạch trơn mối quan hệ giữa sự kinh doanh để kiếm lợi với tính hợp lý. “Khuynh hướng điên cuồng chạy theo lợi, nếu thuần túy chỉ là thế, chỉ đưa đến những kết quả phi lý về phương diện kinh tế, và những con người như Cortez và Pizarro, có thể là những kẻ phát ngôn kiên quyết nhất cho khuynh hướng này, đã không bao giờ nghĩ đến, dù chỉ là xa xôi, một nền kinh tế hợp lý” (Weber 1991, p372).

Cuộc tranh luận xung quanh vấn đề tính hợp lý sẽ cho phép khoa học về cá quy ước và những cách tiếp cận theo lý thuyết thể chế từ bỏ sự cắt rời về mặt nhận thức do lý thuyết về sự cân bằng phổ biến đưa ra. Thế là dần dần xuất hiện sự gắn chức năng kinh doanh đồng thời vào trong xã hội mà nó là chủ thể và trong doanh nghiệp mà nó là khách thể.

1/ Doanh nhân: từ du cư đến bắt buộc

Như Schumpeter nhắc lại, chính Say là người đầu tiên phân biệt một chức năng đặc biệt: chức năng của người kinh doanh. Sự phân biệt này có điều bất tiện là trên thực tế đã định nghĩa một doanh nhân – doanh nghiệp và tiếp tục thống trị lý thuyết kinh tế đương đại. Chẳng hạn như ở trung tâm trường phái Chicago, những quan niệm của Frank H. Knight và Milton Friedman về thực chất chỉ là một. Theo những quan niệm đó, doanh nghiệp được coi như một cá nhân trên thị trường trong khuôn khổ một mô hình ứng xử chuẩn về cách phân phối những tài nguyên hiếm. Hai tác giả đó nghĩ rằng lý thuyết kinh tế cận biên về doanh nghiệp vẫn là chưa thể vượt qua về khả năng dự đoán của nó (Schrader, 1993, p72).

Cuộc tranh luận về cương vị của nhà kinh doanh trong những năm 70, lại được Israel Kirzner tung ra một cách có kết quả. Tiếp tục tư tưởng của Friedrich Hayek, ông ta tìm ra cách thiết lập lại trong một bối cảnh thông tin không hoàn hảo những chức năng theo kiểu Say của người kinh doanh. Định nghĩa của Kirzner phần nào nối liền với định nghĩa do Keynes đưa ra trong những năm 30. Vì muốn hiểu những cơ chế của sự tích lũy và của sự sáng tạo ra các nguồn lực, Keynes đã cho rằng: “Quyền lực bố trí các nguồn lực, sắp xếp vốn và tổ chức các luồng nguồn lực và chi tiêu, trong nền kinh tế tổng thể, được thực hiện bởi những người kinh doanh  được coi như một phạm trù đặc thù, được lập nên xung quanh một sự tính toán kinh tế chung xuất phát từ những lợi ích đồng nhất” (trích dẫn bởi Barrere, 1990, p65). Nhưng trong sơ đồ này, các nhà kinh doanh nạn nhân của sự không chắc chắn, xuất hiện nhiều hơn như những nhân viên có năng lực đưa ra những dự trù có tính sáng tạo (Perroux, 1969, p183). Những khó khăn của sự tính toán kinh tế của họ đã bị người ta nhanh chóng nêu bật, đẩy họ đến chỗ phải làm những tính toán theo quy ước.

(còn tiếp) 

Nguồn: Philippe Beraud & Jean – Louis Perrault – Những nhà kinh doanh của thế giới thứ ba – Viện NCQLKTTW 1998.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s