Tuy nhiên, các tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Đông có nhiều điều phi lý và bị các nước ASEAN là những bên tuyên bố chủ quyền phản đối vì chúng không có đủ căn cứ lịch sử, pháp lý. Thứ nhất, Trung Quốc không có đủ bằng chứng lịch sử cho các đòi hỏi về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam cũng như để yêu sách về Đường lưỡi bò. Trung Quốc mới thật sự chiếm nhóm đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa năm 1956 khi Pháp rút khỏi Việt Nam theo Hiệp định Geneva, đánh chiếm bằng vũ lực phần còn lại của quần đảo Hoàng Sa tháng 1/1974. Đối với quần đảo Trường Sa, Trung Quốc sử dụng lực lượng vũ trang để chiếm một số đảo vào năm 1988 và 1995. Thứ hai, nhiều trong số các vùng đất Trung Quốc tuyên bố chủ quyền không đáp ứng được yêu cầu là đảo theo UNCLOS và theo đó không thể tạo ra vùng đặc quyền kinh tế. Đường chữ U chín đoạn là không có cơ sở, không theo UNCLOS và thực chất là vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của các quốc gia như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia, và Brunei. Các tuyên bố chủ quyền như vậy của Trung Quốc chỉ cho thấy thái độ muốn mở rộng tối đa với lãnh thổ.

Bởi vậy, các nước Đông Nam Á đang tỏ ra rất quan ngại trước những thông tin về việc Trung Quốc có thể tuyên bố xác định Biển Đông là khu vực “lợi ích cốt lõi” của quốc gia, ngang hàng với vấn đề Đài Loan và Tây Tạng, tức là những vấn đề đặt lên hàng đầu, không thể nhượng bộ, phải tập trung giải quyết, thậm chí có thể sử dụng vũ lực để thực hiện.

Bất chấp tuyên bố về phát triển hòa bình và chính sách láng giềng hữu nghĩ, những năm gần đây Trung Quốc tỏ ra cứng rắn, hăm dọa và ép buộc nhằm mở rộng chủ quyền tại Biển Đông. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn luôn tuyên truyền rằng các nước Đông Nam Á lấn chiếm lãnh thổ Trung Quốc, đe dọa ngư dân và cản trở các hoạt động trên biển hợp pháp khác của Trung Quốc. Trong lúc luôn kêu gọi các nước Đông Nam Á “gác tranh chấp, cùng khai thác” ở Biển Đông, Trung Quốc luôn gây sức ép đe dọa các công ty nước ngoài muốn tiến hành hợp đồng khai thác dầu khí với các nước Đông Nam Á. Bộ chỉ huy Thái Bình Dương Mỹ ước tính rằng số lượng các cuộc tuần tra tầm xa của cảnh sát biển Trung Quốc ở Biển Đông đã tăng gấp 3 lần kể từ năm 2008. Ở trường hợp của Philippines, Trung Quốc đã sử dụng các lời đe dọa ngoại giao, trừng phạt kinh tế vốn không bị ràng buộc bởi các chuẩn mực quốc tế và tung lực lượng đông đảo áp chế lực lượng an ninh cùng ngư dân Philippines. Trong một động thái leo thang gần đây, Trung Quốc đã nâng cấp Tam Sa từ cấp huyện lên thành phố cấp vùng vào tháng 6/2012, thông qua quy định hàng hải mới của tỉnh Hải Nam cho in bản đồ lên các tấm hộ chiếu và công khai một kế hoạch khảo sát nguồn tài nguyên hàng hải tại tất cả các vùng biển, đảo… nhằm củng cố yêu sách quyền tài phán của nước này tại Biển Đông. Những hành động trên thể hiện sự không thống nhất giữa đường lối ngoại giao kinh tế mềm dẻo và chính sách quân sự – chủ quyền cứng rắn của Trung Quốc đối với các nước ASEAN có tranh chấp.

Trong bối cảnh đó, xu hướng trong quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc với các nước láng giềng ASEAN trở nên ngày càng khó dự đoán. Những động thái trong quan hệ kinh tế của Trung Quốc với các nước này sẽ trở nên ngày một phức tạp, khó lường, nhất là khi nó đan quyện với các mối quan hệ chính trị và an ninh và bị hci phối bởi các cạnh tranh chiến lược toàn cầu. Điều quan trọng nữa là Trung Quốc thường sử dụng vấn đề Biển Đông để gây chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ ASEAN, ảnh hưởng đến tiến trình hội nhập của khối này.

Các nước ASEAN thường có quan điểm thực dụng nên dễ có lập trường không thống nhất liên quan đến đối sách chung của khối đối với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Trong khi các nước như Philippines đã thể hiện rõ lập trường muốn dựa vào Mỹ, Nhật Bản để đối chọi với sức ép của Trung Quốc trên Biển Đông thì các nước khác vẫn còn do dự. Ngoài ra, Trung Quốc có thể sử dụng đòn bẩy từ sức mạnh kinh tế vượt trội của mình thông qua những đơn hàng của các doanh nghiệp nhà nước, các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng và các khoản viện trợ và cho vay ưu đãi… nhằm gây ảnh hưởng đến chính sách của một số nước ASEAN, như việc ép buộc Campuchia không đưa ra tuyên bố chung của ASEAN về Biển Đông trong hội nghị thượng đỉnh của khối này, hay việc hủy bỏ các đơn hàng nhập khẩu chuối từ Philippines năm 2012. Tháng 5/2014, dưới sức ép của Trung Quốc, hầu hết các nước ASEAN còn lại đều phản ứng rất mờ nhạt đối với việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Trong một kịch bản xấu nhất, nếu như tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông leo thang trở thành xung đột vũ trang, môi trường an ninh ở khu vực Đông Nam Á bị ảnh hưởng nghiêm trọng, AEC sẽ khó thể hoàn thành một trong những mục tiêu của mình là tạo lập một môi trường hấp dẫn cho ASEAN để thúc đẩy quan hệ kinh tế với bên ngoài.

Những bất ổn nội bộ và sự gắn kết chính trị của các nước trong khu vực

Bên cạnh nguy cơ chia rẽ từ những sức ép bên ngoài thì ASEAN cũng đứng trước nhiều thách thức bên trong, nhất là những mâu thuẫn tiềm ẩn trong quan hệ giữa các nước thành viên cũng như từ tình hình bất ổn nội bộ của một số nước khiến cho nền tảng chính trị của hội nhập kinh tế khu vực không thực sự vững chắc.

Trong tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, không chỉ có sự mâu thuẫn giữa một số nước ASEAN với Trung Quốc mà còn có cả mâu thuẫn giữa bốn nước ASEAN cũng đòi hỏi chủ quyền đối với vùng biển này là Brunei, Malaysia, Philippine và Việt Nam. Do lãnh thổ thường được xem là lợi ích tối thượng đối với các nước ASEAN nên những đòi hỏi chủ quyền của các nước này dù một phần hay toàn bộ đối với các đảo thuộc quần đảo Trường Sa trên Biển Đông luôn kiên quyết, không nhượng bộ và mạnh mẽ. Để bảo vệ lợi ích này và cũng để đối phó với sức ép vũ lực ngày càng gia tăng từ Trung Quốc, các nước ASEAN đang có khuynh hướng đầu tư nhiều hơn cho quân sự và điều đó cũng làm phức tạp thêm môi trường an ninh cho hội nhập ở Đông Nam Á.

Thực tế cho thấy, bất chấp khi có cả Hiệp ước thân thiện và hợp tác (TAC), những cuộc xung đột nhỏ lẻ vẫn có thể nổ ra giữa các nước ASEAN liên quan đến vấn đề nhạy cảm là tranh chấp biên giới, lãnh thổ. Trong cuộc tranh chấp giữa Thái Lan với Campuchia xung quanh ngôi đền cổ Preah Vihear nằm tại biên giới hai nước tiếp tục diễn biến không thuận lợi, tình hình căng thẳng diễn ra trong suốt giai đoạn 2008 – 2011. Quân đội Thái Lan và Campuchia tiếp tục có những cuộc đấu súng lẻ tẻ gây thương vong, bất chấp việc lãnh đạo hai nước đã nhiều lần cam kết giảm bớt căng thẳng. Tháng 8/2010, Thủ tướng Campuchia đã từng cảnh báo rằng tranh chấp biên giới với Thái Lan đang “rất nóng”, có thể dẫn đến bạo lực và kêu gọi sự trợ giúp của cộng đồng quốc tế nhằm chấm dứt cuộc tranh chấp này. Mặc dù đã có phán quyết của Tòa án công lý quốc tế năm 2013, bạo lực mới chấm dứt song cuộc tranh chấp vẫn còn.

Tại một số nước ASEAN, tình hình an ninh, đặc biệt tại các vùng biên giới vẫn còn nhiều bất ổn do xung đột tôn giáo, sắc tộc và phong trào ly khai, tạo ra mối lo ngại lớn không chỉ cho chính phủ nước sở tại mà cho cả các nước láng giềng. Năm 2012, chính quyền Philippines và Mặt trận giải phóng Hồi giáo Moro (nhóm phiến quân ở miền Nam đảo Mindanao) đã ký được một hiệp định hòa bình khung nhưng thực tế triển khai còn rất nhiều trở ngại. Ở Thái Lan, lực lượng ly khai Hồi giáo ở các tỉnh miền Nam vẫn hoạt động mạnh đồng thời chính phủ Thái cũng không loại trừ các biện pháp trấn áp mạnh khiến cho môi trường an ninh thường xuyên bị đe dọa. Ở Myanmar, mặc dù đã có những cuộc ngừng bắn tạm thời với các nhóm sắc tộc như Karen và Shan, tình hình an ninh ở khu vực biên giới vẫn còn rất rủi ro, đặc biệt khi lực lượng ly khai vẫn được vũ trang và nắm quyền kiểm soát trên thực tế phần lớn các khu vực này.

Bên cạnh đó, quan hệ giữa các nước ASEAN còn bị ảnh hưởng bởi các vấn đề an ninh phi truyền thống như trong việc khai thác và quản lý dòng sông Mekong hay vấn đề di cư xuyên biên giới. Thí dụ, việc xây dựng các con đập ở phần sông Mekong thuộc Lào đã làm bộc lộ mâu thuẫn phát triển giữa các nước ở thượng nguồn và hạ nguồn Mekong. Trong lúc Lào rất cần xuất khẩu điện năng để tăng nguồn thu nhập quốc gia cũng như các dự án phát triển lớn để kích thích sự phát triển kinh tế – xã hội thì các nước ở hạ nguồn sông Mekong lại phản đối những dự án xây đập như Don Sahong hay Sayaburi vì cho rằng những dự án này có thể gây tổn hại đến môi trường sinh thái ở dưới hạ nguồn, ảnh hưởng đến hoạt động nông nghiệp và ngư nghiệp là nguồn sinh kế của hàng triệu người dân.

Tình hình nội bộ bất ổn của một số nước ASEAN cũng có thể tác động tiêu cực đến sự phát triển của AEC trong tương lai. Trong thời gian qua, các nước như Thái Lan và Myanmar vẫn phải nỗ lực giải quyết những xung đột và mâu thuẫn chính trị – xã hội ở bên trong nước. Với lộ trình bảy bước tiến tới dân chủ, Myanmar đã tổ chức cuộc bầu cử quốc hội đầu tiên trong suốt 20 năm vào tháng 11/2010. Kết quả bầu cử đã được công bố với chiến thắng thuộc về Đảng Liên minh Đoàn kết và Phát triển. Tuy vẫn còn sự hoài nghi về tính công bằng và minh bạch, song cuộc tổng tuyển cử này được coi là một bước ngoặt lớn đối với nền chính trị Myanmar, dù chỉ có thể là một thay đổi nhỏ trong cơ cấu chính phủ. Mặc dù vậy, tiến trình dân chủ hóa hiện đang diễn ra khá nhanh chóng trong khi các thể chế chính trị – xã hội chưa được hoàn thiện có thể đẩy đất nước này vào tình trạng bất ổn trong thời gian tới. Trong khi đó, tình hình chính trị ở Thái Lan kể từ năm 2010 trải qua nhiều bất ổn nghiêm trọng. Tình hình chính trị ở Campuchia cũng không ổn định kể từ cuộc bầu cử quốc hội năm 2013.

Tình hình chính trị nội bộ bất ổn thường tạo môi trường thuận lợi cho xu hướng bài ngoại và chủ nghĩa dân tộc trỗi dậy mạnh mẽ, ảnh hưởng không thuận cho tiến trình hội nhập khu vực. Thay vì chú trọng đến vấn đề hội nhập, việc giải quyết mâu thuẫn chính trị trong nước lại chi phối phần lớn chương trình nghị sự và nguồn lực của chính phủ. Thực tế cho thấy, tình hình chính trị nội bộ của Thái Lan và Campuchia không ổn định cũng là lúc xung đột biên giới giữa hai nước bùng phát trong thời gian qua. Tại Campuchia, ông Sam Rainsy cùng với đảng của ông đã sử dụng những chiêu bài kích động bài xích, gây thù hằn dân tộc với cộng đồng người Việt ở Campuchia và với Việt Nam. Những phong trào theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và có tư tưởng bài xích như của ông Sam Rainsy nếu lớn mạnh sẽ là lực cản lớn đối với tiến trình hội nhập ở Đông Nam Á.

Kết luận

Mặc dù thời điểm hình thành AEC đang tới gần, tiến trình hội nhập kinh tế của ASEAN vẫn còn nhiều thách thức. Bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay cho thấy, tiến trình hội nhập kinh tế của ASEAN đang bị tác động bởi nhiều lực lượng kinh tế, chính trị bên ngoài khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là sức ép và sự cạnh tranh của các nước lớn và các nền kinh tế phát triển như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nga… Vì thế, rất khó thể khiến cho AC nói chung và AEC nói riêng đóng một vai trò nổi bật ở bên ngoài khu vực Đông Nam Á.

Thách thức lớn nhất của AEC không phải là việc nó có được lập ra hay không mà là việc nó sẽ tồn tại như thế nào sau đó và quan trọng hơn cả làm thế nào để AEC có thể cạnh tranh được với nhiều liên kết kinh tế khác? AEC là sự lựa chọn số một của cả khối ASEAN và khu vực Đông Nam Á nhưng cho đến nay có thể vẫn không phải là sự lựa chọn ưu tiên nhất của nhiều nước ASEAN riêng lẻ trong tiến trình hội nhập kinh tế. Tuy nhiên, sức ép từ bên ngoài cũng là điều kiện để các nước ASEAN phải nhìn lại dự án hội nhập của mình để sớm có những thay đổi, cho phù hợp hơn với môi trường xung quanh và nhất là để nâng cao vị thế của ASEAN trên trường quốc tế.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Hồng Sơn & Nguyễn Anh Thu (đcb) – Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), bối cảnh và kinh nghiệm quốc tế – NXB ĐHQGHN 2015.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s