Vấn đề tính khách quan và tính chủ quan trong giá trị, như đã nói ở trên, là một vấn đề phức tạp trong triết học, tâm lý học và cả giá trị học. Nếu mới xem xét giá trị nội tại trong vật thể hay dưới góc độ kinh tế học – giá trị hàng hóa, giá trị trao đổi, hay giá trị vật chất nói chung, thì đã thấy tính khách quan. Nhưng xem xét dưới góc độ tâm lý, ví dụ, xem vật này đáp ứng nhu cầu nào, tạo ra giá trị nào của giá trị thì sẽ thấy rõ tính chủ thể gắn với tính khách thể của vật đó. Lý thuyết giá trị của Meinong vận dụng vào cả kinh tế học và giá trị học, cũng như các lĩnh vực khác như đạo đức, thẩm mỹ… Ông đề ra lý thuyết về giá trị tổng quát (general value theory) và lý thuyết giá trị trong tâm lý học (value theory in psychology). Đối với “giá trị”, ông coi trọng vai trò của tình cảm (feeling) và ý thức, nhưng trước hết, phải nói tới trải nghiệm. Như vậy, theo Meinong, giá trị không thuần túy là thuộc về tinh thần (mental thing), cũng không thuần túy là vật thể (physical thing), mà là thực ế cảm nghiệm (empirical fact), các vấn đề giá trị học là các vấn đề thực tế (fact). Lý thuyết giá trị của Meinong không phải là thuyết chủ quan, nhưng ông nêu luận đề: chúng ta tạo lập “giá trị” về một cái gì đó, không phải vì nó có một giá trị nào đó, mà đấy là ta tỏ thái độ giá trị (value attitude) với cái đó. Thái độ giá trị chính là “giá trị tình cảm” (value-feeling), chứng không phải là phán đoán (judgment) về giá trị tình cảm hay giá trị một vật thể nào. Sau năm 1912, trong tác phẩm Vì một nền tâm lý học và chống tâm lý chủ nghĩa trong lý thuyết đại cương về giá trị, ông có thay đổi quan điểm: ngoài vai trò tình cảm, còn nêu cả vai trò của cảm nhận (sensation in perception), trong đó có phán đoán trên cơ sở cảm nhận, nói theo ngôn ngữ ngày nay, có cả tình cảm, có cả nhận thức, cảm tính hình thành nên giá trị. Ông có định nghĩa giá trị như sau: “Giá trị về một khách thể – đối tượng được xác định như là một năng lực chủ thể có đời sống tình cảm bình thường – một tồn tại có thể tạo ra giá trị (being valueted)”, có thể gọi đó là năng lực xác định giá trị. Ông còn viết: vấn đề không phải chỉ là “giá trị” (value) và “không giá trị” (disvalue), mà còn phải tính đến hoàn cảnh thích hợp nữa. Meinong, khẳng định lại: giá trị là mối liên hệ đặc biệt giữa vật thể mang giá trị với chủ thể nhận tác động của vật thể mang giá trị. Nói cách khác, giá trị vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan. Sau này, từ năm 1912, ông nhấn mạnh tính khách quan cảu giá trị nhiều hơn. Nói về chủ thể của giá trị, ông nêu cả giá trị của cá nhân và giá trị của tập thể, giá trị cá nhân mang tính chủ quan nhiều hơn giá trị tập thể, và giá trị tập thể mang nhiều tính khách quan hơn giá trị cá nhân. Lý thuyết giá trị của Meinong được đánh giá theo triết lý tương đối (relativism).

Về các tiêu chí của giá trị, trước hết, Meinong điểm tới cái gì chủ thể trải nghiệm quan tâm nhất, cả bằng con đường trí tuệ, đối với đối tượng. Thứ hai, cái gì tác động đến tình cảm làm chủ thể nhận ra ý nghĩa của đối tượng, thức tỉnh trải nghiệm giá trị, hướng chủ thể vào đối tượng. Thứ ba, tri thức giúp chính xác hóa tình cảm, góp phần tạo lập giá trị, ông gọi là tri thức giá trị học (axiological knowledge). Những tri thức này phát hiện các tính chất (phẩm chất, đã nói ở trên về cách phân loại giá trị và các hành động tâm lý tương ứng), của vật thể mà chủ thể mong đợi muốn có. Như vậy, cái được gọi là giá trị trong giá trị học là cái chủ thể quan tâm, có thiện cảm và nhận thức về cái đó. Ý kiến này của Meinong cũng như của các tác giả khác đã giúp chúng ta hiểu thêm định nghĩa khái niệm “giá trị”.

Tóm lại, từ tâm lý học đến xây dựng giá trị học, Meinong là tác giả có tác phẩm với tiêu đề Lý thuyết giá trị hay Lý thuyết tổng quá về giá trị, có thể coi là đồng nghĩa của tên gọi “khoa học về giá trị” hay “giá trị học”. Với ý đó, Meinong đứng ở ngọn nguồn của giá trị học hiện đại. Ông đã xây dựng một hệ thống tri thức về đối tượng của khoa học này, lập luận khả năng vững chắc cho một cách nhìn con người và xã hội theo các giá trị – giá trị quan: con người là tồn tại có năng lực xác định giá trị, con người nhìn nhận, đánh giá mọi vật thể dưới góc độ giá trị. Ông đã chỉ ra cơ chế tạo lập giá trị, chứng minh trong tâm lý con người có cơ chế “trải nghiệm” kiến tạo các giá trị và đã xác định các tiêu chí của giá trị (mối quan tâm, tình cảm và tri thức giá trị học). Trong lý thuyết về giá trị, Meinong đã xác định tính khách quan và chủ quan của giá trị, cũng như đã đề xuất cách phân loại giá trị, vận dụng vào một số lĩnh vực khác nhau của khoa học và đời sống. Vì vậy, việc tìm hiểu giá trị học Meinong và vận dụng vào việc tìm hiểu các giá trị loài người, các giá trị dân tộc Việt Nam, và vận dụng phù hợp để mỗi người tự tạo cho mình “giá trị bản thân” phù hợp với thời đại chúng ta là hết sức cần thiết.

X/ Scheler và giá trị học (cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX)

Sau Kant, Nietzsche và Meinong, lịch sử giá trị học thường nhắc tới M. Scheler (1874 – 1928), nhà hiện tượng luận, đạo đức học, triết học nhân học và giá trị học người Đức. Ông học Đại học Y khoa, nghiên cứu triết học và xã hội học với nhà tâm lý học W. Diltey (1833 – 1911), nhận học vị tiến sĩ năm 1897, tiến sĩ khoa học năm 1889, học hàm phó giáo sư năm 1901. Từ năm 1900 – 1910, ông dạy Đại học ở Murnich (Đức). Trong thời gian dạy đại học, ông nghiên cứu hiện tượng luận, giảng dạy ở Hội triết học thành phố Göttingen. Năm 1919, ông là giáo sư triết học và xã hội học Đại học Cologne, và sống ở đây đến cuối đời. Những năm cuối đời, khoảng từ năm 1923, trong một số tác phẩm, ông đề cập đến tình hình xã hội – kinh tế ở Đức, quan tâm nhiều đến giá trị quan như là một nguyên nhân của tình hình, ông lên án giá trị quan đương thời và vạch đường hướng cho một thời kỳ mới của văn hóa và giá trị mà ông gọi là “Thời đại điều chỉnh thế giới”. Trong những năm 1933 – 1945, chính quyền phát xít đã cấm in và đọc các tác phẩm của Scheler.

Quan niệm của Scheler trình bày năm 1913 – 1914 về “hiện tượng” (phenomen) như là “thái độ đối với sự vật ta nhìn thấy dưới dạng tinh thần”, đó chính là quá trình ta gọi là trải nghiệm: ta nhận được “sự kiện hiện tượng” (phenomenological fact) và có thái độ đối với sự kiện ấy, khi đó ta nhận ra giá trị của sự kiện (vật thể mang giá trị). Tác giả gọi đó là “thái độ giá trị” (value-attitude), là sản phẩm tinh thần, tâm lý (disposition of the spirit hay spiritual posture).

Scheler khẳng định, có sự “tồn tại giá trị” (“value-being”, “axiological reality of values”). “Tồn tại giá trị” ở con người còn phụ thuộc vào sự “chuyển tải giá trị”  (value-bearer), tức là con người có “cảm nhận giá trị” (value-feeling) mới thành giá trị, cả hai thứ này – tồn tại giá trị và chuyển tải giá trị – đều tồn tại trong thế giới. Vì có quan hệ như vậy nên các nền văn hóa hay tôn giáo khác nhau có thể tạo ra các giá trị khác nhau. Đó là tính tương đối của giá trị (relativity of values). Tuy nhiên, các giá trị văn hóa của một cộng đồng, dân tộc trước khi chuyển tải vẫn là các giá trị cao nhất. Cần vận dụng ý tưởng này vào tìm hiểu các giá trị dân tộc và chuyển tải các giá trị đó thành “giá trị bản thân”.

Scheler nêu lên một số cách phân loại giá trị, chẳng hạn, giá trị (values) và phản giá trị (disvalues) qua các ví dụ cụ thể sau:

+ Các giá trị cao cả (holy: thần thánh) ngược với các giá trị thấp hèn (unholy: không thần thánh).

+ Các giá trị chân và mỹ với các giá trị ngược lại.

+ Các giá trị cuộc sống và quý phái ngược với các giá trị thô tục.

+ Các giá trị vui sướng ngược với các giá trị đau khổ.

+ Các giá trị có ích ngược với các giá trị vô ích.

Hay một cách phân loại giá trị thành giá trị tích cực (positivie value) và giá trị tiêu cực (negative value):

+ Sự tồn tại của giá trị tích cực chính là giá trị tích cực.

+ Sự tồn tại của giá trị tiêu cực chính là giá trị tiêu cực.

+ Không tồn tại giá trị tích cực chính là giá trị tiêu cực.

+ Không tồn tại giá trị tiêu cực chính là giá trị tích cực.

Hay xác định nội hàm hai giá trị thiện (good) và ác (evil) giúp ta hiểu thêm giá trị quan:

+ Thiện là giá trị gắn với sự thực hiện giá trị tích cực, mong muốn.

+ Ác là giá trị gắn với sự thực hiện giá trị tiêu cực không mong muốn.

+ Thiện là giá trị gắn với sự thực hiện giá trị cao cả, mong muốn.

+ Ác là giá trị gắn với sự thực hiện giá trị thấp hèn, không mong muốn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s