Đặc điểm nam tính, nữ tính và nhà nước

Các đặc điểm giá trị của một nước không chỉ được phản ánh trong quan điểm của các công dân bình thường mà cả các chính trị gia, họ cũng trưởng thành từ những đứa trẻ nhỏ trong xã hội của họ. Trên thực tế, mọi người thường được bầu hoặc kết nạp vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính trị bởi vì họ được cho rằng là đại diện cho các giá trị nhất định gần gũi với người dân.

Chính trị gia thường lồng ghép các giá trị chiếm ưu thế trong đất nước họ vào những vấn đề chính trị ưu tiên. Những ưu tiên chính trị được nhận thấy dễ dàng nhất trong kết cấu ngân sách của chính phủ. Phạm trù nam tính – nữ tính ảnh hưởng đến những ưu tiên trong các khía cạnh đối lập như sau:

+ Tinh thần tương hỗ người yếu và khen thưởng người mạnh;

+ Hỗ trợ các nước nghèo và đầu tư vũ trang;

+ Bảo vệ môi trường và tăng trưởng kinh tế.

Các nước nam tính phấn đấu vì một xã hội năng suất cao, các nước nữ tính nỗ lực vì một xã hội thịnh vượng. Họ nhận được những gì họ cống hiến: trong năm 1994 – 95, số liệu sẵn có trong số 10 nước công nghiệp phát triển, tỷ lệ người nghèo dao động khác nhau giữa các nước từ mức 4,3% ở Na Uy (nước nữ tính) đến 17,6% ở Australia (nước nam tính). Trong giai đoạn 1992 – 2002, trong số 8 nước phát triển, tỷ lệ người có thu nhập thấp hơn thu nhập trung bình dao động từ 5,4% ở Phần Lan đến 17,0% ở Mỹ. Tỷ lệ mù chữ do rối loạn chức năng (tức lã đã đi học song trên thực tế không biết đọc và biết viết) trong số 13 nước phát triển dao động từ 7,5% ở Thụy Điển đến 22,6% ở Ireland. Tất cả ba ví dụ trên, tỷ lệ có liên quan chặt chẽ với chỉ số MAS.

Các chính trị gia và phóng viên ở các nước nam tính như Mỹ và Anh có quan điểm nhận xét về các giá trị rất khác biệt và đối lập mạnh mẽ với các chính trị gia và phóng viên ở nước nữ tính. Ví dụ, ở Mỹ có một quan điểm chung là các vấn đề kinh tế ở Thụy Điển và Hà Lan là do thuế quan cao, trong khi các nước châu Âu nữ tính lại cho rằng các vấn đề kinh tế ở Mỹ bắt nguồn từ việc giảm thuế quá nhiều cho người giàu. Tuy nhiên, hệ thống thuế không phải tự sinh ra mà được các chính trị gia lập ra dựa trên cơ sở quan niệm về giá trị tồn tại từ trước. Phần lớn người dân Thụy Điển cho rằng xã hội phải đảm bảo chất lượng cuộc sống tối thiểu cho mọi người. Thông thường các công cụ tài chính được thu thập từ những người có chúng trong xã hội. Ngay cả các chính trị gia bảo thủ ở Tây – Bắc Âu về cơ bản cũng không phản đối quan điểm này với điều kiện có thể hiện thực hóa được nó.

Sự thịnh vượng ở khu vực Tây – Bắc Âu không phải là hiện tượng mới hình thành gần đây: Triết gia người Pháp – Denis Diderot – đến thăm Hà Lan năm 1773 – 74, ông đã chỉ ra rằng mức thuế cao và không có nghèo đói là kết quả của chế độ phúc lợi và chăm sóc y tế tốt cho tất cả mọi người, tiêu chuẩn về giáo dục cao: “Người nghèo được chăm sóc cẩn thận trong bệnh viện. Mỗi người được nằm một giường riêng”.

Sự đối lập giữa hiệu suất và phúc lợi được phản ánh trong quan điểm về nguyên nhân của nghèo đói. Một cuộc nghiên cứu thực hiện ở các nước trong Liên minh châu Âu đã đưa ra câu hỏi: “Theo anh/chị, tại sao lại có người sống trong tình cảnh thiếu thống? Trong bốn quan điểm dưới đây, quan điểm nào gần với ý kiến của anh/chị nhất? (1) Vì họ không may mắn; (2) Vì họ lười biếng và không có chí; (3) Vì xã hội tồn tại quá nhiều điều không công bằng; (4) Đây là vấn đề tất yếu của quá trình phát triển hiện đại”. Trong số 12 nước thành viên Liên minh châu Âu, tỷ lệ ý kiến quy kết nghèo đói với yếu tố kém may mắn dao động từ 14% ở Thụy Điển đến 33% ở Hà Lan; tỷ lệ này tỷ lệ nghịch với chỉ số MAS. Tỷ lệ ý kiến cho rằng lười biếng là nguyên nhân dẫn đến nghèo đói dao động từ 10% ở Hà Lan đến 25% ở Hy Lạp và Luxembourg; tỷ lệ này tỷ lệ thuận với chỉ số MAS. Ở các nước nam tính, có nhiều người tin rằng nghèo đói là lỗi của chính họ, nếu họ làm việc chăm chỉ hơn họ sẽ không nghèo và người giàu không có nghĩa vụ phải hỗ trợ họ.

Quan điểm về người nghèo giống với quan điểm về người vi phạm pháp luật. Một cuộc thăm dò ý kiến dư luận thực hiện ở 9 nước châu Âu đã đưa ra câu hỏi: “Một số hành vi gây tranh cãi có thể được lý giải bằng những nguyên nhân nào: chơi xấu sau lưng, sử dụng ma túy nhẹ, nhận hối lộ, hiếp dâm, li dị và tự tử?” Các câu trả lòi được tổng kết trong một chỉ số về sự buông thả có liên quan mật thiết với chỉ số nữ tính. Mẹ thường dễ tính hơn cha.

Phạm trù nam tính – nữ tính cũng liên quan đến quan điểm về cách thức xử lý người nhập cư hợp lý. Nhìn chung, có hai quan điểm đối lập nhau. Một bên cho rằng đồng hóa (người nhập cư nên bỏ văn hóa cũ của họ), và một bên ủng hộ quá trình hội nhập (người nhập cư chỉ cần điều chỉnh những khía cạnh văn hóa và tôn giáo mâu thuẫn với luật pháp ở đất nước mới). Theo kết quả khảo sát ý kiến dư luận ở 14 nước trong Liên minh châu Âu năm 1997, tỷ lệ ủng hộ quá trình hội nhập hơn đồng hóa tỷ lệ nghịch với chỉ số MAS; ngoài ra, tỷ lệ này cũng có tương quan yếu hơn với Tổng thu nhập quốc dân theo đầu người. Người tham gia khảo sát ở các nước nghèo nam tính yêu cầu phải đồng hóa, còn các nước giàu nữ tính ủng hộ quá trình hội nhập. Chúng ta đã gắn kết “quan điểm tôn trọng các nền văn hóa khác” với thuyết phổ biến, trong đó đưa ra các dữ liệu Eurobarometer năm 2008. Người dân châu Âu ở 26 nước được yêu cầu lựa chọn “các giá trị quan trọng nhất đối với bản thân họ” (chọn 3 trong số 12 giá trị). Một trong các giá trị đó là “tôn trọng các nền văn hóa khác”. Sự chênh lệch trong tỷ lệ người chọn câu trả lời này ở các nước khác nhau có liên quan đến cả chỉ số IDV và chỉ số MAS thấp.

Ở các nước giàu, lựa chọn giữa khen thưởng phe mạnh và hỗ trợ phe yếu cũng được phản ánh trong tỷ lệ ngân sách nhà nước để hỗ trợ cho phát triển các nước nghèo. Chính phủ ở các nớc giàu khác nhau đóng góp tỷ lệ khác nhau trong Tổng thu nhập quốc dân để hỗ trợ các nước nghèo. Năm 2005, Mỹ chi 0,22% Tổng thu nhập quốc dân trong khi Đan Mạch, Luxembourg, Hà Lan, Na Uy và Thụy Điển đều đóng góp hơn 0,7% Tổng thu nhập quốc dân. Các tỷ lệ này không liên quan đến mức độ giàu nghèo của các nước tài trợ. Yếu tố thực sự liên quan đến mức hỗ trợ cao đó là hệ thống giá trị nữ tính của nước đó.

Tạp chí điện tử Foreign Policy đã tính toán Chỉ số Cam kết hỗ trợ phát triển (CDI) của 21 nước giàu bằng cách tính toán cả dòng tiền hỗ trợ cũng như các tác động tích cực và tiêu cực của các chính sách khác hoạt động thương mại, nhập cư, đầu tư, gìn giữ hòa bình và chính sách môi trường. Một lần nữa chỉ số CDI lại tỷ lệ nghịch với chỉ số MAS. Chỉ số này ít liên hệ hơn với chỉ số về dòng tiền, vì chính sách phúc lợi ở trong nước đôi khi mâu thuẫn với chính sách hỗ trợ nước ngoài.

Các nước chi ít tiền để hỗ trợ người nghèo trên thế giới có thể đầu tư vũ trang nhiều hơn. Tuy nhiên rất khó có được dữ liệu đáng tin cậy về các khoản chi quốc phòng vì cả bên cung cấp và bên mua vũ trang đều có quyền lợi bất di bất dịch trong việc bảo mật. Chúng tôi chỉ rút ra được một kết luận từ số liệu sẵn có, đó là trong số các nước tài trợ, các nước giàu có ở mức trung bình chi nhiều ngân sách để mua sắm vũ khí hơn các nước giàu có hơn. Súng được ưu tiên hơn bơ.

Các nước nam tính thường có xu hướng giải quyết mâu thuẫn bằng cách chiến đấu; các nước nữ tính đi theo con đường thỏa hiệp và thương lượng (giống như cách xử lý mâu thuẫn trong môi trường làm việc). Một minh họa rõ rệt nhất là sự khác biệt trong cách ứng phó khủng hoảng Ăland và khủng hoảng Falkland.

Các đảo Ăland là một quần đảo nằm giữa Thụy Điển và Phần Lan là một phần thuộc lãnh thổ Phần Lan, các hòn đảo này thuộc quyền sở hữu của đế chế Nga hoàng. Khi Phần Lan tuyên bố tách ra độc lập với Liên bang Nga năm 1917, đại đa số 37000 người dân trên quần đảo muốn gia nhập Thụy Điển, vốn vẫn cai trị họ từ trước năm 1809. Sau đó người Phần Lan đã bắt giữ các thủ lĩnh của phong trào ủng hộ Thụy Điển. Sau khi tiến hành thương lượng trên cơ sở tình cảm với sự tham gia của Hội Quốc liên mới được thành lập năm 1921, tất cả các bên đã thống nhất với quyết định quần đảo vẫn thuộc Phần Lan, tuy nhiên phần lớn là theo cơ chế tự trị vùng.

Các đảo Falkland cũng là một quần đảo nhỏ bị tranh chấp giữa hai nước: Anh – vốn chiếm đóng quần đảo này từ năm 1833, và nước Argentina gần đó cũng khẳng định quyền sở hữu quần đảo này từ năm 1767 và cố gắng giành được sự ủng hộ của Liên hợp quốc. Quần đảo Falkland có diện tích lớn gấp 8 lần quần đảo Ăland song dân số chưa bằng 1/15 dân số của quần đảo Ăland: chỉ có khảong 1800 hộ nông dân nuôi cừu nghèo khổ. Quân đội Argentina chiếm đóng quần đảo từ tháng 4 năm 1982, sau đó người Anh đã điều quân viễn chinh đến đuổi quân chiếm đóng, hậu quả là (theo số liệu chính thức) 725 lính Argentina và 225 lính Anh bị thiệt mạng và tổn thất kinh tế nặng nề. Nền kinh tế của quần đảo phụ thuộc vào hoạt động giao thương với Argentina bị tê liệt trầm trọng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s