Tư tưởng đảng phái

Đối với hầu hết người Mỹ, thái độ chính trị hình thành nên những quan điểm và tổ chức những thái độ chính trị của họ một cách nhất quán nhất chính là thiên hướng của họ hướng tới các đảng phái chính trị. Một đa số lớn người Mỹ sẵn sàng tự liệt mình là những người Cộng hòa hay những người Dân chủ và trả lời những câu hỏi chính trị một cách tương ứng. Việc gắn bó đảng phái có nhiều cách giải thích khác nhau, nhưng chúng mang tính bổ sung nhau hơn là loại trừ lẫn nhau. Các nhà nghiên cứu khi phát triển khái niệm này vào thập niên 1950 đã coi sự gắn bó đảng phái là một hiện tượng tâm lý. Những người sẵn sàng tự coi mình là người Dân chủ hay người Cộng hòa đã gắn với đảng đó theo cùng cách mà họ có thể đã gắn bó với một vùng, một nhóm sắc tộc hay một tôn giáo: “Tôi là một người New York, một tín đồ Thiên chúa giáo Ailen, và một người Dân chủ”. Theo đúng nghĩa đen, sự ưu tiên đảng phái là một thành tố của bản sắc cá nhân, dù là được bắt rễ từ những trải nghiệm cá nhân mạnh mẽ (với ví dụ rõ nhất là hàng triệu người đã trở thành người Dân chủ trong những năm Đại suy thoái) hay được học hỏi, cùng với những gắn bó tương tự, từ gia đình và hàng xóm. Được giải thích theo cách như vậy, sự gắn mình với một đảng phái được cho là để thiết lập một định hướng kiên trì đi tới thế giới chính trị. Các cử tri có thể bỏ đảng nếu như họ có phản ứng đủ mạnh đối với những ứng cử viên, vấn đề hay sự kiện cụ thể đi ngược lại với sự gắn bó đảng phái của họ. Nhưng một khi những lực lượng ngắn hạn này không còn hiện hữu nữa, thì ảnh hưởng của sự gắn bó đảng phái sẽ tái khẳng định bản thân nó và họ sẽ quay trở lại với cái neo đảng phái của mình. Đối với hầu hết mọi công dân, chỉ có những trải nghiệm khá mạnh mẽ và bất thường mới gây ra được những chuyển hướng lâu dài trong sự trung thành đảng phái.

Một cách giải thích khác nhấn mạnh đến những khía cạnh thực tế, hơn là khía cạnh tâm lý, của sự gắn bó đảng phái. Mọi người nghĩ mình là Dân chủ hay Cộng hòa bởi vì thông qua sự trải nghiệm trong quá khứ họ đã nhận ra rằng các chính trị gia của đảng mình chọn thường có nhiều khả năng hơn các ch1inh trị gia của đảng kia trong việc mang lại những lại kết quả mà họ mong mốn. Sự trải nghiệm trong quá khứ là một tiêu chí hữu ích hơn so với những lời hứa kỳ vọng về tương lai bởi vì nó chắc chắn hơn. Những đường lối hành động đảng phái được thừa nhận là không hoàn hảo, và những người được thuyết phục rằng một ứng cử viên của một đảng khác sẽ giải quyết hiệu quả hơn những quan ngại của họ thường bỏ phiếu ủng hộ ứng cử viên đó. Nếu như sự trải nghiệm tích lũy cho thấy rằng những chính trị gia của đảng mà họ ưa thích hơn không còn làm tốt hơn trong khía cạnh này, thì sự ưu tiên đảng phái tất yếu sẽ suy giảm. Theo các diên giải này, tư tưởng đảng phái có thể thay đổi dần dần về sức mạnh và chiều hướng mà không có một biến động tâm lý đột ngột nào gắn với việc thay đổi bản sắc cá nhân của một người.

Nhưng, nói lại một lần nữa, những diễn giải này không hề mang tính loại trừ lẫn nhau. Một đảng phái có thể chỉ là sự lựa chọn trước mắt của một số cử tri, nhưng lại là một nguồn bản sắc cá nhân đối với những cử tri khác. Sự trải nghiệm thực tế tích lũy với các nhà lãnh đạo và hoạt động chính trị rất có thể tăng cường hoặc làm suy yếu cảm giác của một cá nhân về sự gắn bó tâm lý với một đảng phái. Ngược lại, những cảm giác “ruột rà” về các đảng phái có thể đơn giản chỉ là cách thức hữu hiệu để bộ não chứa kết quả của những trải nghiệm tích lũy, tạo ra ột con đường tắt đi tới hành động (quyết định bỏ phiếu thế nào hay đánh giá thế nào về những đối thủ hay sự kiện chính trị) mà không cần phải có thêm cố gắng nhận thức. Dù được diễn giải như thế nào thì đảng phái vẫn là một sự lựa chọn ngầm định đối với đa số các cử tri: trừ phi có lý do thuyết phục để làm theo cách khác, còn thường thì các cử tri sẽ diễn giải các hiện tượng chính trị theo những cách ủng hộ cho đảng phái mà họ ưa thích hơn. Chẳng hạn, sau khi George W. Bush rốt cuộ cũng được toàn bộ phiếu đại cử tri bang Florida và như vậy giành được ghế tổng thống vào tháng Mười hai 2000, 85% những người tự coi mình là Cộng hòa nghĩ rằng ông đã giành thắng lợi một cách thỏa đáng và tuyệt đối, 11% nghĩ rằng ông đã giành thắng lợi nhờ kỹ thuật, và 3% nghĩ rằng ông đã gian lận trong bầu cử. Tuy nhiên, trong số những người tự coi mình là Dân chủ, chỉ có 18% cho rằng ông đã giành thắng lợi thỏa đáng và tuyệt đối, 49% cho rằng ông giành thắng lợi nhờ kỹ thuật, và 31% cho rằng ông đã gian lận trong cuộc bầu cử. Những phản ứng đối với việc luận tội Bill Clinton vào năm 1998 cũng mang tính đảng phái rõ nét: gần 2/3 số người tự coi mình là Cộng hòa muốn ông bị buộc trọng tội và bị kết án, trong khi khoảng 85% những người Dân chủ lại không muốn như vậy.

Những xu hướng không nhất quán theo đảng phái như vậy không phải là ngoại lệ; quả thực, phản ứng đối với các đối thủ và sự kiện chính trị đã trở nên ngày càng phân cực hóa theo những tư tưởng đảng phái trong vòng 30 năm qua. Những phản ứng đối với George W. Bush cho chúng ta thấy rõ điều đó. Bush bước vào Nhà trắng năm 2001 với tình trạng khác biệt trong quan điểm đảng phái về sự ủng hộ hoạt động của tổng thống lớ nhất so với bất kỳ tổng thống mới đắc cử nào kể từ khi việc thăm dò ý kiến được tiến hành hơn 50 năm trước (một phần chủ yếu là do những tranh cãi đảng phái về sự kiểm phiếu ở bang Florida). Những người Dân chủ đã đứng về phía ông trong trào lưu đoàn kết quốc gia sau sự kiện tấn công khủng bố ngày 11 tháng Chín (xem Hình 10 – 3), song khoảng cách một lần nữa lại nhanh chóng được nới rộng ra. Trong những người Cộng hòa, tỷ lệ tán thành Bush giữ ở mức rất cao, còn trong những người Dân chủ thì tỷ lệ này bắt đầu có xu hướng giảm liên tục, chỉ ngừng lại trong một thời gian ngắn nhờ những phản ứng đối với giai đoạn quân sự thành công trong cuộc chiến ở Iraq vào tháng Tư 2003 và việc bắt được Saddam Hussein vào tháng Mười hai 2003. Tính đến mùa Thu 2002, khoảng chênh lệch quan điểm giữa những người thuộc hai đảng đã mở rộng đến một con số trung bình là hơn 79%, một mức cao toàn diện. Những khác biệt tương tự đã xuất hiện trong việc phân bố câu trả lời trong những câu hỏi về hầu như mọi thứ liên quan đến chính quyền Bush và các chính sách của nó, nhưng nổi bật nhất là cuộc chiến ở Iraq. Một mức chênh lệch đảng phái gần 60% trong việc ủng hộ cho cuộc chiến ở Iraq (xem Hình 10 – 2) là lớn hơn gấp đôi so với bất kỳ mức chênh lệch nào được ghi lại trong bất kỳ cuộc thăm dò ý kiến nào về Chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh ở Việt Nam, hay cuộc Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất.

page-1-3

page-2-3

Giống như những thái độ khác, sự gắn bó đảng phái ảnh hưởng đến các niềm tin cũng như các quan điểm. Các thái độ mang sự thiên lệch đối với những nhận thức và cách diễn giải thông tin chính trị bởi vì mọi người thường chú ý nhiều hơn và có lòng tin lớn hơn đối với những thông tin có tính xác nhận chứ không phải thách thức niềm tin của họ. Ví dụ, một nghiên cứu vào năm 2004 nhận thấy rằng những người Cộng hòa đông hơn những người Dân chủ trong bộ phận thính giả của bình luận viên phát thanh bảo thủ Rush Limbaugh với tỷ lệ 7/1, trong khi những người Dân chủ lại đông hơn những người Cộng hòa trong số những người xem bộ phim tài liệu chống George W. Bush của Micheal Moore có tiêu đề Cao độ 11 tháng Chín (Fahrenheit 9/11) với tỷ lệ hơn 5/1. Và mặc dù những cuộc lục soát hậu chiến ở Iraq không tìm thấy loại vũ khí hủy diệt hàng loạt nào cũng như bằng chứng cho thấy rằng Hussein có dính líu đến những cuộc tấn công khủng bố chống lại nước Mỹ, song hàng triệu người Mỹ vẫn tin vào điều ngược lại bởi vì nó trùng khớp với quan điểm của họ về nhà độc tài Iraq. Không có gì đáng ngạc nhiên khi những người Cộng hòa, để hậu thuẫn cho cuộc chiến này và chính quyền Bush, lại sẵn lòng hơn so với những người Dân chủ trong việc biểu thị niềm tin của mình. Nói chung, tình hình càng mơ hồ, thì những thái độ có từ trước như sự gắn bó đảng phái càng có nhiều khả năng định hình nên niềm tin; việc kiểm phiếu ở bang Florida là một ví dụ kinh điển, bởi vì cho đến nay không một ai có thể nói chắc được là ai đã giành thắng lợi.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s