Để chuyển địa bàn tranh luận, chúng ta hãy theo cách của Keynes mà lưu ý rằng người ta “có thể chứng minh dễ dàng rằng nếu muốn đặt những xác xuất bằng nhau về số học trên cơ sở một tình trạng không hiểu biết thì người ta rốt cuộc đi đến những điều phi lý” (1936, p164). Tuy nhiên, nếu người ta xa rời mô hình cân bằng phổ quát và hình dung mình áp dụng cách tính toán lựa chọn đầu tư của Keynes vào một khu vực đang phát triển, thì chính sự tính toán này cũng có thể bị xuyên tạc sâu sắc bởi bối cảnh. Quả vậy, đối với các nhà kinh doanh trong thế giới thứ ba, nếu trừ đi những hoạt động của nhà nước, chi phí đầu tư ban đầu ắt phải là nhỏ vì những lý do gắn liền với năng lực tiết kiệm của họ và sự eo hẹp của những chu trình tài chính. Như vậy, các nhà kinh doanh đó không đáp ứng định nghĩa do Schumpeter đề nghị, là nhà kinh doanh ngồi trên một núi nợ nần. Trình độ đầu tư thấp cũng là vì có những khoản vốn được sử dụng một cách khác, tức là bỏ vào những động sản và bất động sản có năng suất tương đối được đảm bảo. Vì vậy, đối với những lãi suất thông thường hiệu quả cận biên của vốn luôn luôn quan trọng hơn lãi suất và như thế đáp ứng một điều kiện cần của đầu tư. Tuy nhiên, nếu các lãi suất và như thế đáp ứng một điều kiện cần của đầu tư. Tuy nhiên, nếu các lãi suất và như thế đáp ứng một điều kiện cần của đầu tư. Tuy nhiên, nếu các lãi suất tăng lên, những lợi nhuận được rút ra có thể được chuyển dịch đến những khoản đầu tư khác trên các thị trường tài chính tiền tệ (Destanne de Bernis, 1977, p424). Và do đó, sự đầu cơ thường được chuộng hơn là sự kinh doanh, chứng minh sự đúng đắn của nhận xét của Keynes, theo đó “Kinh nghiệm không chỉ ra một cách rõ ràng rằng chính sách đầu tư [sản xuất] có lợi hơn về phương diện xã hội là khớp với chính sách đầu tư có lãi nhất” (1936, p169). Cuối cùng các nhà kinh doanh của thế giới thứ ba thường bị loại ra khỏi nhiều hoạt động công nghiệp vì những trở lực chiến lược chắn ngang ở cổng vào hoặc do hiệu ứng tự nhiên của công nghiệp. Điều thường hay xảy ra nhất là những hình thức doanh nghiệp có thể có đều nhanh chóng làm cạn kiệt những khả năng về một lợi nhuận kế toán trong một hoạt động nhất định, dần dần đánh mất như Schumpeter đã nói, những cơ hội đầu tư và thể hiện một sự phân biệt triệt để giữa những vụ việc kinh doanh làm ăn và công nghiệp.

Do đó, những ứng xử của các nhà kinh doanh thuộc thế giới thứ ba thường hay giống nhất với những ứng xử mà Kirzner đã miêu tả. Nghĩa là, như ta đã thấy, họ thích hợp để xuất hiện khi cần cải tiến sự phối hợp những dự án cá nhân, với điều kiện là những cơ hội giao dịch kinh doanh gắn với những dự án đó được lộ rõ và nhất là họ không buộc phải dựa vào những quyền sở hữu là đặc điểm của nhà tư bản. Trong tất cả mọi trường hợp, cần phải có những kích thích để làm động cơ cho sự cảnh giác, trong số đó có “năng lực của nhà kinh doanh có thể đánh hơi được các khoản lợi nhuận” (1973, p229), còn được Kirzner gọi là “Động cơ mạnh mẽ của con người” có thể coi gần như cái mà Keynes đã nhấn mạnh là tính năng nổ của nhà kinh doanh. Những ứng xử kinh doanh đã được quan sát gắn với một thứ tâm lý của nhà kinh doanh thuộc kiểu đã được Keynes hay Schumpeter định nghĩa, hẳn rằng không thể tách khỏi bối cảnh xã hội của nó, nhưng theo như chính định nghĩa của nó, là phù du chóng mất, chóng tan và vì vậy ít có khả năng vượt qua được ngưỡng cửa thời kỳ sơ khởi của công nghiệp.

2.2/ Những dấu ấn xã hội của doanh nghiệp

Lý thuyết cận biên đã không tính đến những phương tiện qua đó các thiết chế tác động để ảnh hưởng đến những cá nhân nằm trong các thiết chế đó và đến những ứng xử của họ. Trái ngược lại, đối với một số xu hướng của lý thuyết hợp đồng, các ảnh hưởng xã hội được nêu ra như những phương sách để tạo nên ở các tác nhân những thói quen và những tập quán mà họ tuân theo một cách gần như là máy móc; trong cách quan niệm siêu – xã hội hóa này coi các lực lượng xã hội như là những sức mạnh ở bên ngoài cá nhân, thì bối cảnh xã hội là cái xác định sự ứng xử và các quyết định. Theo Grabner, trong loại phân tích này, “tác nhân cũng bị tách biệt thành từng nguyên tử, giống như con người kinh tế – homo economicus – của Smith, chỉ có cách tính toán mà con người đó thực hiện là có thể khác hơn thế” (1993, p2). Ngoài ra, một số lý thuyết duy thể chế có khuynh hướng coi các thể chế là ở trạng thái tĩnh và như là những dữ liện (Scharader, 1993, p169). Cuối cùng, các nhà theo lý thuyết tân thiết chế lại khôn khéo dùng mẹo là những chi phí giao dịch hay chi phí tổ chức để chuyển từ doanh nghiệp sang nhà kinh doanh – doanh nghiệp.

Chính vì vậy mà W.W. Powell bác bỏ cách kiểm kê và đánh giá các phương thức trao đổi dưới hình thức một chuỗi liên tục từ những hành vi giao dịch của thị trường đến tận doanh nghiệp được tập trung cao độ; theo ông ta, quan niệm này có khuynh hướng trình bày thị trường như là điểm xuất phát và là hình thức cơ bản của trao đổi, từ đó sản sinh ra tất cả những hình thức trao đổi khác (1991, p266). Thế nhưng lịch sử của các doanh nghiệp cho thấy rằng những công ty, theo đúng sơ đồ của Williamsen, với những chu vi hoạt động được xác định chặt chẽ và một tổ chức tập trung, là không điển hình như thế nào: “Ý tưởng theo đó các hình thức trao đổi kinh tế có thể được trình bày một cách có ích như một chuỗi liên tục, ý tưởng đó làm cho người ta yên tâm và là máy móc. Nó không nắm bắt được những thực tế phức tạp của trao đổi” (Powell, 1991, p267).

Thế nhưng, theo François Perroux, “Phát triển là sự kết hợp những thay đổi về tâm lý và xã hội của một tổng thể người, làm cho tổng thể đó có khả năng làm tăng lên, theo lũy tích và một cách lâu dài, tổng sản phẩm thực của nó” (1969, p191). Theo định nghĩa, sự kết hợp này dựa trên những tổ chức và đặc biệt là tổ chức công nghiệp: xí nghiệp. Tổ chức công nghiệp này có thể làm lộn xộn, phá hoại tổ chức và làm mất ổn định một số thể chế nào đó của cộng đồng. Ngược lại, một khi có những thói quen và những lề thói được phổ biến và trở thành chung cho nhiều nhóm cá nhân thì các thể chế tạo ra những quy tắc ứng xử xã hội. Đó là những tiêu chuẩn văn hóa, những tục lệ, những truyền thống, những quy tắc và luật pháp có thể là chính thức hay không chính thức, đượ cnói ra hay chỉ là ngụ ý. “Đặc điểm chung của những tiêu chuẩn, phép tắc, truyền thống, luật lệ đó là chúng điều hòa những mối quan hệ giữa các cá nhân và tập thể […]. Một trong những đặc trưng quan trọng của các quy tắc ứng xử là hcúng hình thành một công cụ thông tin cho phép giảm bớt nhiều dạng của sự không chắc chắn. Như vậy, các thể chế làm cho những loại hình hành động khác nhau của các tác nhân khác nhau có thể đoán trước được hơn (Johnson, 1992, p25). Nhưng cộng đồng và tổ chức không cùng theo đuổi những mục đích như nhau, không gắn bó vào cũng những mục tiêu; kết quả là, như Peter Drucker ghi nhận , “[…] tổ chức hiện đại phải ở trong lòng cộng đồng nhưng không thể thuộc về cộng đồng […]. Như vậy, tổ chức không thể đắm mình vào trong cộng đồng, và cũng không thể đem những mục tiêu của riêng mình lệ thuộc vào những mục tiêu của cộng đồng” (1992, p98).

Tuy nhiên, có những tương tác khách quan. Vì vậy cho nên, đúng như nhận xét của Richard Whitley, chỉ riêng tính hợp lý về kinh tế là không đủ để giải thích sự phát triển những cơ cấu quản lý có hiệu quả trong những nền kinh tế khác nhau (1992, p1). Cần thiết phải vượt quá cái quan niệm cho rằng thủ tục đề ra quyết định chỉ là một thái độ cá nhân riêng rẽ và phải thừa nhận rằng các cơ cấu xã hội đóng một vai trò chủ đạo trong việc quyết định. Lập trường này tức thì bác bỏ mô hình chuẩn của những sự lựa chọn hợp lý. Đây là một trong những kết luận của Mary Zey khi bà nhận xét rằng: “[những hạn chế của tính hợp lý của con người] xuất phát từ nguyên nhân là sự không đầy đủ và không hoàn hảo của tri thức của con người, sự không nhất quán của những niềm tin và những sở thích của từng cá nhân, những xung đột về giá trị giữa cá nhân và những nhóm người, và sự thiếu sót của những đánh giá của chúng ta” (1992, p3). Cuộc tranh luận đạt đến một mức độ rối rắm lẫn lộn nào đó khi Kenneth Arrow, nhà lý luận của thuyết cân bằng phổ quát, viết rằng “tính hợp lý có được không những sức mạnh mà cả ý nghĩa của nó từ trong bối cảnh xã hội làm nền tảng cho nó […]. Chính vì thế mà Kenneth Arrow chủ trương đại bộ phận đời sống kinh tế là do tập quán, chứ không phải do cạnh tranh, chi phối” (Basié và những tác giả khác trích dẫn, 1988, p143), rồi John Stuart Mill lại nói thêm rằng “không có một nguyên lý nào loại trừ sự tạo ra một lý thuyết kinh tế dựa trên cơ sở những giả thuyết khác với tính hợp lý [miễn là] lý thuyết đó bao gồm cả một lý thuyết về những tương tác trên thị trường” (Arrow, 1987, p64).

(còn tiếp) 

Nguồn: Philippe Beraud & Jean – Louis Perrault – Những nhà kinh doanh của thế giới thứ ba – Viện NCQLKTTW 1998.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s