Quá trình trần tục hóa ở các nước nữ tính không đưa đến sự triệt tiêu các giá trị đạo đức. Không tìm thấy bằng chứng nào về mối quan hệ giữa hai hiện tượng này khi so sánh dữ liệu nghiên cứu Hệ thống giá trị châu Âu/Thế giới trong năm 1981 – 82 và dữ liệu năm 1990 đối với các nước Ireland, Hà Lan và Thụy Sĩ. Vì vậy, các công thức đơn giản để chỉnh đốn hành vi vô đạo đức bằng cách quay trở về với tôn giáo đã được chứng minh là sai lầm. Ngược lại, trên thực tế, chính đặc điểm nữ tính (mà chúng ta chỉ ra có mối tương quan với quá trình trần tục hóa) có liên hệ cùng chiều với giá trị đạo đức. Năm 1996, tạp chí Reader’s Digest đã công bố kết quả một cuộc thử nghiệm như sau: “Cố tình” đánh rơi 200 ví tiền ở nơi công cộng tại cả các thành phố lớn và các thành phố nhỏ ở Mỹ và 14 nước châu Âu, trong ví có 50 USD, ảnh chụp gia đình và số liên lạc của người chủ chiếc ví. Trong số 10 chiếc ví được thả ở mỗi thành phố, cả 10 chiếc đều được trả về Oslo (Na Uy) và Odense (Đan Mạch), tuy nhiên, chỉ có 2 chiếc được gửi trả về Lausanne (Thụy Sĩ) (một chiếc do một người Albani nhặt được), Ravenna (Italy) và Weimar (Đức). Số lượng ví được gửi trả có tương quan chặt chẽ với đặc điểm nữ tính của các nước, đồng thời cũng bị tác động của khoảng cách quyền lực nhỏ.

Người ta tiến hành một cuộc thử nghiệm khác và cũng có kết quả tương tự, lần này các sinh viên ngoại quốc đến từ 23 thành phố khác nhau đã “vô tình” đánh rơi một chiếc bút ngay trước mặt một người đi đường theo hướng ngược lại. Điểm được tính là tỷ lệ số lần người đi đường nói cho người đánh rơi bút biết, hoặc nhặt và đưa bút cho người đánh rơi. Tỷ lệ người đi đường tốt bụng ở 23 nước có liên quan mật thiết với chỉ số nữ tính của nước đó.

Tất cả tôn giáo đều quy định vai trò tôn giáo khác nhau cho hai giới. Trong đạo Công giáo, hiện nay có nhiều nhà thờ Tin Lành áp dụng nguyên tắc bình quyền giữa nam giới và nữ giới trong vai trò lãnh đạo và tăng lữ; trong khi đó các nhà thời Thiên Chúa giáo La Mã duy trì triệt để đặc quyền của nam giới trong vai trò linh mục. Ngoài ra, trong tất cả nhà thờ Công giáo giáo, phụ nữ thường một đạo hơn nam giới. “Rõ ràng Chúa không công tâm khi ban phát cơ hội: Ngài thiên vị phụ nữ hơn”. Nghiên cứu Hệ thống Giá trị của châu Âu cho thấy rằng quy luật này được đặc biệt đúng với phụ nữ không có việc làm. Trong xã hội, khi phụ nữ chuyển từ vai trò nội trợ sang vai trò người kiếm tiền, quan điểm của họ về tôn giáo đã thay đổi gần giống với quan điểm của nam giới.

Không có gì ngạc nhiên khi phạm trù nam tính – nữ tính liên quan đến cả hành vi tình dục và tôn giáo. Tôn giáo là cầu nối cho con người tác động đến thế lực siêu nhiên: để đưa ra một số quy luật chắc chắn bên cạnh những rủi ro không thể tiên đoán được về sự tồn tại của con người. Sinh ra, kết hôn và chết đi là những sự kiện đầu tiên trong số những sự kiện không thể tiên đoán được. Tất cả tôn giáo đều coi trọng và kỷ niệm những sự kiện liên quan đến sự sống: sinh con, đám cưới và ma chay. Các nghi lễ kết hôn và sinh con tồn tại trong gần như tất cả mọi nền văn minh loài người từ thời tiền sử cho đến tận ngày nay, như đám cưới và điện thờ cầu thai. Trong đạo Do Thái và phần lớn đạo Hồi, cắt bao quy đầu nam giới là một điều kiện để được kết nạp vào cộng đồng tôn giáo. Trong đạo Hindu, kiến trúc đền thờ mô phỏng lingam yoni (dương vật và âm vật). Triết học Trung Quốc và các thủ tục tôn giáo cực kỳ coi trọng sự hài hòa âm dương (yang yin), thành phần đại diện cho nam và nữ.

Hầu hết các tôn giáo đều đưa ra quy tắc trong tình yêu và tình dục. Tình dục ở loài người có hai khía cạnh: để duy trì nòi giống và thỏa mãn khoái cảm. Các tôn giáo khá nhau và các dòng trong cùng một tôn giáo có lập trường khác nhau về khía cạnh khái cảm trong tình dục; xu hướng chung là các tôn giáo trong nền văn hóa nam tính chú trọng nhiều đến khía cạnh duy trì nòi giống, còn tôn giáo trong nền văn hóa nữ tính coi trọng việc thỏa mãn khoái cảm hơn. Đạo Thiên Chúa La Mã trong nền văn hóa nam tính từ chối tình dục để thỏa mãn khoái cảm, kết nạp những người không quan hệ tình dục thành Linh mục, tôn thờ Đức mẹ Maria Đồng Trinh, kết hôn là nghi lễ với mục đích sinh con; cấm li dị, tránh thai và nạo thai. Một số ít nhà thờ Thiên Chúa Tin Lành sau khi tách ra khỏi Rome đã xóa bỏ tư tưởng phi tình dục, không coi kết hôn giống như nghi lễ tôn giáo và cho phép li hôn. Đạo Hồi Chính thống chấp nhận tình dục để thỏa mãn nhu cầu khoái cảm đối với đàn ông, tuy nhiên đối với phụ nữ, đó là hiểm họa. Các dòng trong đạo Hindu có quan điểm tích cực về khoái cảm tình dục, và được minh chứng trong cẩm nang tình yêu Kamasutra và các đền thờ cầu duyên Khajuraho và Konarak ở Ấn Độ. Ở đất nước nữ tính theo đạo Phật là Thái Lan, việc sở hữu gái điếm ít bị kỳ thị hơn ở phương Tây. Ở Thụy Điển có nhiều giá trị nữ tính hơn, mại dâm bị cấm nhưng người khách mua dâm phải chịu phạt chứ không phải người bán dâm.

Trong lĩnh vực lý thuyết khoa học về tình dục, nổi bật nhất phải kể đến tác phẩm của Sigmund Freud (1856 – 1939) khởi nguồn từ Áo – một trong những nước có chỉ số MAS cao nhất trong bảng xếp hạng của IBM (79). Freud – cha đẻ của ngành phân tâm học đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng cơ bản của tình dục trong quá trình phát triển tính cách con người; ông đã lý giải nhiều vấn đề của bệnh tâm lý là do sự suy nhược tình dục. Freud đã gắn kết hội chứng dương vật (ghen tị vì không có dương vật) cho tất cả phụ nữ. Thử hỏi một tác giả xuất thân từ một xã hội ít giá trị nam tính hơn liệu có thể hình dung được những điều này. Mọi tác giả hay nhà khoa học đều là đứa trẻ lớn lên từ xã hội của họ; tác phẩm của Freud có nguồn gốc trực tiếp từ bối cảnh của nước Áo, nơi ông được nuôi dạy.

Bảng 5.6: Điểm khác biệt chính giữa xã hội nam tính và xã hội nữ tính

V. Chính trị và tôn giáo
Xã hội nữ tính Xã hội nam tính
Xã hội thịnh vượng và lý tưởng; giúp đỡ người nghèo. Xã hội năng suất là lý tưởng; ủng hộ phe mạnh.
Coi trọng thái độ tôn trọng các nền văn hóa khác; người nhập cư nên hòa nhập với nền văn hóa mới. Người nhập cư phải đồng hóa để giống với mọi người khác trong xã hội mới.
Chính phủ hỗ trợ cho các nước nghèo. Nước nghèo cần phải tự lực cánh sinh.
Cần bảo tồn môi trường: nhỏ là đẹp. Nền kinh tế phải liên tục tăng trưởng: to là đẹp.
Giải quyết xung đột quốc tế bằng con đờng đàm phán và thỏa hiệp. Giải quyết xung đột quốc tế bằng cách phô diễn sức mạnh hoặc chiến đấu.
Nhiều người có quan điểm chính trị hữu khuynh. Nhiều người có quan điểm chính trị trung gian.
Chính trị dựa trên cơ sở liên minh và cách hành xử lịch thiệp. Chính trị giống như trò chơi đối đầu, thường xuyên cáo buộc lẫn nhau.
Nhiều phụ nữ được bầu vào các vị trí chính trị. Ít phụ nữ được bầu và các vị trí chính trị.
Tôn giáo mềm mỏng. Tôn giáo nghiêm khắc.
Trong đạo Công giáo, quá trình trần tục hóa diễn ra mạnh mẽ hơn, chú trọng đến tình yêu thương đồng loại. Trong đạo Công giáo, quá trình trần tục hóa diễn ra mờ nhạt hơn; coi trọng niềm tin vào Chúa.
Các tôn giáo chính quy định vai trò ngang nhau đối với cả hai giới. Các tôn giáo chính nhấn mạnh đến các đặc quyền của nam giới.
Tôn giáo có thái độ tích cực hoặc trung gian về khoái cảm tình dục. Tôn giáo công nhận tình dục là hình thức duy trì giống nòi hơn là thỏa mãn khoái cảm.

Bảng 5.6 bổ sung cho các bảng 5.2, 5.3, 5.4, 5.5, tổng kết các điểm khác biệt giữa xã hội nam tính và xã hội nữ tính được thảo luận ở hai phần trước.

Nguồn gốc đưa đến những điểm khác biệt giữa nam tính và nữ tính

Trong suy nghĩ của con người, vấn đề bình đẳng hoặc bất bình đẳng giữa hai giới cũng xưa cũ như vấn đề tôn giáo, đạo đức và triết học. “Chúa đã tạo ra thế giới” – Genesis – quyền đầu tiên của kinh Cựu ước (được viết vào thế kỷ thứ V trước Công nguyên), gồm có hai phiên bản đối lập nhau về sự hình thành hai giới. Trong phiên bản thứ nhất, Genesis: 1:27 – 28 lý giải như sau:

Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ. Đức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán rằng: Hãy sinh sản, thêm nhiều, làm cho đầy rẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng.

Câu kinh trên hàm ý quan hệ bình đẳng giữa hai giới. Phiên bản thứ hai Genesis 2:8ff (các chuyên gia về kinh Cựu ước cho rằng phiên bản thứ hai xây dựng dựa trên một tài liệu khác) kể về câu chuyện khu vườn Eden, ở đây ban đầu Đức Chúa Trời chỉ tạo ra “người nam”. Theo ghi chép trong Sách Saáng Thế: 2:18, thì sau đó:

Đức Chúa là Thiên Chúa phán rằng: Loài người ở một mình thì không tốt; ta sẽ làm nên một kẻ giúp đỡ giống như nó.

Tiếp sau đó là câu chuyện về người nữ được tạo ra từ chiếc xương sườn của Adam. Câu chuyện này đã nêu bật vai trò ưu tiên rõ ràng của nam giới và mô tả phụ nữ là “một kẻ giúp đỡ”, lý giải một xã hội trong đó nam giới chiếm thế thượng phong.

Trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại, Platon ở thế kỷ thứ IV trước Công nguyên đã mô tả hai giới về nguyên tắc có vai trò ngang nhau và (ngoại trừ vai trò sinh sản) chỉ khác nhau trên phương diện thống kê. Trong cuốn The Republic, ông đã đưa ra thiết kế về một nhà nước lý tưởng nằm dưới quyền cai trị của một nhóm người tinh túy gồm cả nam giới và phụ nữ. Tất nhiên trên thực tế, Hy Lạp là nước có nam giới chiếm ưu thế. Các nước La Mã cũng vậy; tuy nhiên ít nhất cũng có một tác giả người La Mã C. Musonius Rufus (thế kỷ thứ I trước Công nguyên) đã bảo vệ quyền bình đẳng của hai giới và cụ thể là nghiên cứu về triết học của nam giới và phụ nữ là như nhau.

Theo quan điểm của nhà xã hội học người Đức – Norbert Eilas, cán cân quyền lực giữa hai giới biến đổi cùng với quá trình phát triển của xã hội. Trong thời kỳ Cộng hòa La Mã và đầu thời kỳ đế chế La Mã (năm 400 trước Công nguyên đến năm 100 sau Công nguyên), ảnh hưởng và quyền của phụ nữ dòng dõi quý tộc cũng được cải thiện dần dần cùng với quá trình biến chuyển từ một đất nước trở thành đế chế của cả thế giới, cùng với quá trình lột xác của tầng lớp thượng nghị sĩ từ vị trí các chiến binh nông dân trở thành thành viên thuộc dòng dõi quý tộc. Trong cuốn sách được viết trước, Elias đã mô tả quá trình tái thiết lập một xã hội trật tự và hạn chế chiến tranh trong khoảng thế kỷ 11 sau Công nguyên ở châu Âu và đặc biệt là Pháp đã giúp cho phụ nữ quý tộc có chỗ đứng trong xã hội. Trong lịch sử khai hóa nền văn minh châu Âu, dòng dõi quý tộc và hoàng gia Pháp luôn là mô hình chủ đạo, bỏ xa các nước khác và tầng lớp khác. Những điểm khác biệt hiện nay trong phạm trù nam tính – nữ tính trong đó các nước Pháp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha nghiêng về một bên, trong khi Anh, Đức, và Italy lại thiên về một bên khác có thể được lý giải là do các tác động khác nhau của quá trình này.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s