Theo Winter thì những tri thức do một tổ chức nắm là những tri thức có thể được nói ra hoặc là những tri thức ngầm không được nói ra. Những tri thức không nói ra là những tri thức riêng, phần nhiều nhất là từ sự liên hiệp của những cá nhân trong xí nghiệp, hễ những cá nhân này đi khỏi thì những tri thức đó cũng mất luôn; những tri thức thuộc loại thứ hai có thể được phổ biến nhiều hơn, thậm chí có thể được pháp điển hóa (1987, p171). Theo Teece và Winter, bản chất của công nghệ được xác định rất nhiều bởi tính chất ngầm của các năng lực cá nhân. Đó là sự tuân thủ những luật lệ mà những người vâng theo nó không nhất thiết phải nó rõ rằng đó là những luật lệ. Winter giải thích rằng để tối ưu hóa những tài sản có của mình, một xí nghiệp có lợi nếu định ra được những hiểu biết nghề nghiệp ngầm mà người ta không thể quan sát được. Winter tóm tắt hai tình hình đối lập trong một bảng (bảng số 2).

Bảng 2

Một hệ thống loại hình những tài sản có về hiểu biết nghề nghiệp

Ngầm Có thể nêu ra
Không thể nhận ra khi sử dụng Có thể quan sát được khi sử dụng
Phức tạp Đơn giản
Môđun của một hệ thống Độc lập

Các dạng kiến thức nghề nghiệp quyết định kiểu tài sản có của một xí nghiệp tùy theo trình độ chuyên biệt của chúng. Theo Teece, một số tài sản có mang tính chất chủng loại, tức là không phải chỉ để chuyên dùng cho một sự đổi mới đặc biệt, trái với những tài sản có chuyên dụng (1987, p192). Nhìn dưới góc độ đó các nhà kinh tế học theo thuyết tiến hóa coi khái niệm tài sản con người đặc dụng là khâu mấu chốt để hiểu hoạt động của xí nghiệp như là nơi tập hợp tri thức (Winter, 1991, p192). Như vậy, hoạt động đổi mới căn cứ trên rất nhiều điểm mốc chỉ dẫn mà sự ổn định của các tổ chức, như đã nói trên đây, là một bảo đảm. Nhà kinh doanh theo quan niệm của Schumpeter bảo đảm “sự liên lạc giữa thế giới kỹ thuật – khoa học của những phát minh với thế giới kinh tế của những đổi mới” (Mareo, 1985, p105). Con người kinh doanh – đổi mới này đúng hơn là một người kinh doanh – phối hợp, nắm bắt các thời cơ. Thế mà ứng xử của xí nghiệp lại là kết quả của một lề thói tổ chức theo nếp cũ có thể coi như là một sự kế hoạch hóa không tường minh, hoặc thậm chí tường minh, cái mà Nelson và Winter định nghĩa là thuộc tính tiêu chuẩn của tổ chức. J. Perrin viết: “Lề thói tổ chức theo nếp cũ đó được tích lũy trong ký ức các thành viên của xí nghiệp, trong những bộ nhớ vật chất (những hệ thống phiếu ghi, sách, các phương pháp làm việc), và cũng cả những thiết bị và trong môi trường làm việc của xí nghiệp (1991, p390).

Tiêu chuẩn xí nghiệp đòi hỏi một cơ chế chiếm hữu mà Teece phân biệt hai hình thức cực đại. Ông ta coi là chế độ chiếm hữu đóng kín cơ chế cấm không cho những người bắt chước nắm được những tri thức nghề nghiệp thích đáng (các bằng sáng chế, sự thông thạo ngầm về tay nghề, sản phẩm – hệ thống). Ngược lại, trong trường hợp một chế độ có những lỗ xốp, một xí nghiệp không nào ngăn cản các đối thủ cạnh tranh nắm được những thông tin về các sản phẩm hay phương thức sản xuất của mình, do đó mà tốt hơn là nên đứng ở phần bên trái của bảng của Winter được trình bày trên đây. Tuy nhiên, theo Harold Demsetz, sự cạnh tranh bằng chiếm hữu thông tin vẫn có những giới hạn nhất định. Quả vậy, sự tích lũy những tri thức trong xí nghiệp không thể thực hiện được bằng cách học tập những gì mà những người khác biết, vì như vậy làm giảm đi những khoản lợi gắn với những tri thức chuyên môn. Ngay cả việc nắm được những thông tin dưới dạng mã hóa cũng không đảm bảo khả năng áp dụng trong sản xuất; có thể là xí nghiệp tìm cách bắt chước không giải mã được những thông tin ấy (1991, p172).

Phải chăng mục tiêu của xí nghiệp phải được rút lại thành một hoạt động đề xuất quan niệm, mà người đề xướng, theo định nghĩa của H. Simon, là người “tưởng tượng ra việc tiến hành một hành động với mục tiêu là thay đổi một tình hình hiện có thành một tình hình khác được coi là tốt hơn” (Perrin trích dẫn, 1991, p395). Với điều kiện vượt quá sự cám dỗ định nghĩa một người kinh doanh là người quan niệm, không phù hợp với xí nghiệp đang được quan sát, chúng ta có thể làm như Jacques Perrin, coi công nghệ là “hành động quan niệm một đối tượng kỹ thuật mới sinh ra một quá trình biến đổi và sản xuất những tri thức kỹ thuật” (1991, p383). Như vậy, và đúng như những nhận xét của chúng ta về việc giảm đến mức tối thiểu sự bất trắc, hành động quan niệm trở thành một chức năng tập thể của xí nghiệp và “những quá trình dạy và học nghề thông qua việc thực hiện liên tiếp nhiều thông tin được lặp lại và phản hồi, mặt khác via trò của những lề thói nếp cũ, những hoạt động được chương trình hóa một cách mặc nhiên, hai mặt đó hình như là hai trong những tính chất đặc thù của các hoạt động quan niệm đã từgn được nêu lên trong hiều công trình nghiên cứu thuộc nhiều ngành khoa học xã hội khác nhau…” (1991, p383).

Thông qua việc đề ra quan niệm, xí nghiệp khuếch tán những nhiễu loạn về tổ chức và nói rộng ra, trong các cộng đồng, đưa chúng ta trở lại với những đề xuất của Drucker (xem ở trên). Tuy nhiên, một xí nghiệp không thể chịu đựng nổi toàn bộ những chi phí để sản xuất các tri thức cần thiết cho mình. Có những thể chế khác phải nuôi dưỡng quá trình “đổi mới – quan niệm” này.

3.2/ Công nghiệp, một của cải tập thể?

Trong một luận văn cơ bản, Friedrich Hayek đã quan sát rằng những thông tin thích đáng được tản mát giữa một số tác nhân. Do đó, kinh tế phải tìm ra “Cách sản xuất ra một giải pháp bằng những tác động qua lại giữa những tác nhân mà mỗi người chỉ nắm được một phần tri thức” (1945, p530). Hayek thử chứng minh rằng hệ thống giá cả bù đắp lại cho những thiếu sót đó bằng các cách ứng xử. Tuy nhiên, lập luận của ông ta chỉ có thể vận dụng một phần cho những mối quan hệ mà các xí nghiệp thiết lập giữa họ với nhau, trong chừng mực ông ta không tự đặt ra câu hỏi về những phương thức cho phép các tác nhân chiếm hữu những phương thức cho phép các tác nhân chiếm hữu những thông tin hay những tri thức. Vậy mà, như Arrow nhận xét “Mọi thông tin đều giá đắt, kể cả thông tin và giá” (1987, p69); như chúng sẽ thấy, giá của việc truyền dạy các tri thức từ xí nghiệp này sang xí nghiệp khác cũng là đắt.

Ngược lại theo quan niệm của một số nhà kinh tế theo thuyết thể chế, như John Rogers Commons, những giao dịch giữa các cá nhân chỉ có thể diễn ra với sự có mặt của một thực thể thứ ba bảo đảm cho những quy tắc chức năng, do kinh nghiệm đã qua truyền lại. Những quy tắc đó bù lại sự thiếu lòng tin cố hữu trong trao đổi thương mại. Những quy tắc đó hình thành một cái vốn văn hóa chung phản ánh ký ức về những kinh nghiệm trước đó, mà sự am hiểu của tập thể mọi người về những kinh nghiệm đó là được bảo đảm, và những quy tắc đó phù hợp với những đề xuất của Powell và Ouchi đã được nêu ở trên. Cái vốn văn hóa này được Commons đặt tên là Commonwealth – khối thịnh vượng chung. Từ đó tác giả suy ra rằng sự hài hòa các hệ lợi ích trong khối “đưa đến sự khuyến khích giải quyết các mối bất hòa gây ra bởi những xung đột về lợi ích” (Baslé trích dẫn, 1993, p71).

Điều đó nhắc tới, tuy không đưa ra một câu trả lời đầy đủ, nhận xét của Hayek rằng, trong kinh tế: “Vấn đề cụ thể nảy sinh chính bởi vì các sự kiện không bao giờ chỉ do một đầu óc duy nhất nhắm được và bởi vì, do đó trong sự tìm kiếm giải pháp cho vấn đề, cần thiết phải sử dụng những thông tin bị tản mạn trong nhiều cá nhân […], cho nên người ta phải chỉ ra bằng cách nào mà một giải pháp lại là kết quả của những tác động lẫn nhau của những tác nhân chỉ nắm được một bộ phận của thông tin mà thôi (1945, p530). Tuy nhiên, hệ thống phối hợp phi tập trung của các trao đổi bằng giá cả, mà nhà kinh tế học người Áo đề nghị và đã gợi ý cho phương pháp tiến hành của Kirzner, đương nhiên gác sang một bên thông tin khoa học hay công nghệ; hệ thống này chỉ quan tâm duy nhất đến những trường thông tin nhiều vô số nhưng không được tổ chức, không thể đạt tiêu chuẩn là những thông tin khoa học, tức là những thông tin về các quy tắc chung mang tính chủng loại: thông tin về các điều kiện thời gian và địa điểm” (1945, p521).

(còn tiếp) 

Nguồn: Philippe Beraud & Jean – Louis Perrault – Những nhà kinh doanh của thế giới thứ ba – Viện NCQLKTTW 1998.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s