4/ Tập hợp không chính thức

Song song với hệ thống các thiết chế này, những tập hợp không chính thức các nhà nước cũng dần dần được thiết lập trên cơ sở thống nhất tập thể và có số thành viên hạn chế. Các tập hợp này cho phép tìm ra được những điểm nhất trí về những vấn đề nảy sinh và có được tác động về mặt chính trị đối với các tổ chức có thẩm quyền về các vấn đề liên quan. Thành công của cách thức hợp tác này phụ thuộc vào ý chí của các quốc gia trong việc thực hiện các cam kết của mình. Chúng ta có thể kể ra đây 3 ví dụ.

Nhóm điển hình trong các tập hợp này phải kể đến Nhóm bảy nước (G7) bao gồm Đức, Canada, Mỹ, Pháp, Italy, Nhật Bản và Anh. Nhóm G7 nhóm họp lần đầu tiên ở cấp nguyên thủ nhà nước và chính phủ vào năm 1975. Ở cấp bộ trưởng tài chính và thống đốc các ngân hàng trung ương, G7 có vai trò là một cấp điều phối không chính thức và thúc đẩy các chính sách kinh tế. Nước chủ nhà tổ chức cuộc gặp của nhóm G7 thường tổ chức nhiều buổi họp trù bị giữa các đại diện của các nhà lãnh đạo, còn gọi là các “sherpas” có trách nhiệm thảo luận các vấn đề có thể được ghi vào trong chương trình nghị sự. Các sherpas trực tiếp trao đổi với nhau trong suốt cả năm và có một đội ngũ các chuyên viên cao cấp trợ giúp và hướng sự quan tâm của họ về những thách thức kinh tế, tài chính và chính trị.

Việc Nga tham dự cuộc nhóm họp của G7 tại Denver năm 1997 đã khiến tổ chức này trở thành G8. Sự kiện này cho phép Nga hội nhập một phần vào cơ chế tham vấn quốc tế và tạo điều kiện cho nước này vững bước chuyển sang kinh tế thị trường.

Nhóm mười nước (G10) được thành lập từ năm 1962 bao gồm các nước công nghiệp phát triển. Trong khuôn khổ của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS), ngân hàng trung ương các nước này phối hợp với nhau trong các hoạt động trên thị trường vàng đến năm 1968. Trong khuôn khổ IMF và BIS, G10 thường có những tham vấn không chính thức để có thể đi đến những quyết định quan trọng (Aglietta và Moatti, 2000).

Nhóm 20 (G20) được thành lập tại Berlin vào tháng 12 năm 1999 là hiện thân cuối cùng của các tập hợp không chính thức (G22, G33) bao gồm các nước mới nổi và do G7 tập hợp để thảo luận về hoạt động của hệ thống tài chính quốc tế liên quan đến việc dự đoán các cuộc khủng hoảng, ổn định tài chính, tính minh bạch của các thiết chế tài chính quốc tế (Coeuré và Pisani – Ferry, 2000).

II/ Một số thiết chế quản trị toàn cầu chính

1/ Quỹ Tiền tệ Quốc tế

Từ khi thành lập, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) không ngừng thích ứng với những thay đổi sâu sắc của hệ thống tiền tệ quốc tế. Tổ chức này đã đảm nhận nhiều nhiệm vụ mới trong khuôn khổ một quy chế gần như không thay đổi. IMF thực hiện các chức năng đa dạng và rất rộng. Những thay đổi này chính là nguyên nhân khiến cho thời gian gần đây tổ chức này bị nhiều lời chỉ trích. Những kiến nghị cải cách được đưa ra rất nhiều và đôi khi trái ngược nhau.

1.1/ Sự thích ứng không ngừng các nhiệm vụ của IMF

Khi mới thành lập, IMF có mục tiêu rất rõ ràng là điều chỉnh hệ thống tỷ giá hối đoái cố định dựa trên hợp tác quốc tế.

Nhiệm vụ chính của tổ chức này, nhiệm vụ cho phép IMF tư vấn trong lĩnh vực kinh tế vĩ mô, là giám sát các chính sách kinh tế của các quốc gia thành viên và sự cân bằng các thanh toán vãng lai. Chức năng này được tăng cường rất nhiều từ năm 1976 khi chuyển sang một hệ thống ngoại hối thả nổi được thiết lập sau khi ký kết Hiệp định Jamaique (sửa đổi quy chế lần hai). Ngược lại, lần sửa đổi quy chế thứ nhất vào năm 1969 (đưa ra các quyền rút vốn đặc biệt SDR để giao cho IMF vai trò quản lý tiền mặt quốc tế) chỉ có tác động thứ yếu trước quá trình phát triển của khả năng thanh khoản thị trường.

Kể từ năm 1982, IMF bắt đầu phải thích ứng với xu hướng tăng vay nợ của các nước đang phát triển khi tổ chức này buộc phải đứng ra quản lý cuộc khủng hoảng vay nợ nước ngoài trầm trọng. IMF bắt đầu thực hiện vai trò trung gian giữa các nước vay nợ và chủ nợ (thành viên của Câu lạc bộ Paris), các ngân hàng quốc tế và đặc biệt là trong Câu lạc bộ London và chính thức theo dõi chính sách kinh tế của các nước đang phát triển nhằm giải quyết sự thâm hụt với bên ngoài. Bên cạnh lĩnh vực điều chỉnh kinh tế vĩ mô còn có thêm phần cải tổ cơ cấu thông qua các chương trình cho vay có điều kiện. Các chương trình này nhằm đóng vai trò xúc tác đối với các nguồn vốn công cộng và tư nhân. IMF đã gia tăng thời hạn cho vay (ví dụ như cho vay điều chỉnh cơ cấu kinh tế – SAF được áp dụng từ năm 1986) và thiết lập trợ giúp chuyển nhượng (đặc biệt là Cho vay điều chỉnh cơ cấu kinh tế tăng cường – ESAFs) được áp dụng từ năm 1987 cho các nước nghèo nhất. IMF cũng đã đảm nhận vai trò chỉ đạo trong quá trình chuyển đổi kinh tế các nước Đông Âu và Nga bằng cách hỗ trợ kỹ thuật và trợ giúp tài chính (Aglietta và Moatii, 2000).

Cuối những năm 1990, lĩnh vực tư nhân giữ một vai trò quan trọng trong các lưu chuyển dòng vốn. Trong bối cảnh này, các nước mới nổi dường như không còn phụ thuộc vào sự trợ giúp của IMF. Tuy nhiên, với sự xuất hiện của các cuộc khủng hoảng tài chính kiểu mới với đặc điểm là sự rút lui ồ ạt các nguồn vốn và có tính lây nhiễm cao (khủng hoảng kinh tế ở Mexico 1995, châu Á năm 1997 và Nga năm 1998), đã khiến các nước thiết lập các kế hoạch cứu chữa trong đó IMF đã giữ vai trò chính yếu.

1.2/ Các chức năng đa dạng và rộng

Việc IMF phải giải quyết nhiều khó khăn chồng chất đã buộc tổ chức này phải đảm nhiệm các chức năng tương đối rộng và có thể chia thành sáu nhóm (Pesme, 2001).

Điều I Văn bản quy chế của IMF quy định tổ chức này là một công cụ hợp tác kinh tế quốc tế. Tuy rằng sự hợp tác này không được nhiều như mong muốn lúc đầu nhưng IMF vẫn đóng vai trò là nguồn thẩm định kinh tế và tài chính đa phương chủ yếu của nhóm G7 và G20. Việc chuyển Ủy ban tạm quyền thành Ủy ban Tiền tệ và Tài chính quốc tế thể hiện mong muốn tăng cường đối thoại giữa các thành viên của IMF và tính hợp pháp của tổ chức này. Chính bối cảnh này đã thể hiện rõ sự trợ giúp quan trọng của IMF đối với các nước đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường.

Quỹ Tiền tệ quốc tế hoạt động như một quỹ trợ giúp tương hỗ. Mỗi thành viên đóng góp một khoản cho phép cơ quan này có thể cung cấp các khoản tín dụng ngắn hạn cho các nước đang gặp khó khăn về cán cân thanh toán. Với những khoản vay trên 25% phần đóng góp của mình (vạch dự trữ), các nước vay tiền phải đưa ra một chương trình tái cơ cấu kinh tế vĩ mô và phải được IMF chấp nhận mới có thể giải ngân được các khoản vay. Cơ chế này được gọi là cơ chế cho vay có điều kiện.

Chức năng dự đoán khủng hoảng tài chính của IMF được thực hiện thông qua các công cụ hợp tác của tổ chức này, đầu tiên phải kể đến là chức năng giám sát các chính sách kinh tế của các nước thành viên. Chức năng này xuất phát từ Điều IV Văn bản quy chế của IMF. Các dự báo của IMF được đưa ra trên hai cấp độ đa phương (trên quy mô quốc tế và khu vực) và song phương (quốc gia) tạo điều kiện chẩn đoán và thống nhất ý kiến cả trong các cơ quan có cơ cấu tổ chức chặt, hoạt động trên nguyên tắc tôn trọng các quan điểm chung và cả ở cấp độ các nhà quản lý (Aglietta và Moatti, 2000). Những phân tích này có tác động đến các cuộc họp các bộ trưởng tài chính nhóm G7 có sự tham dự của Tổng giám đốc IMF.

Các cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính diễn ra trong thời gian qua đã buộc phải tập trung vào việc xác định sớm các yếu tố rủi ro, phân tích kỹ các cơ chế lưu chuyển tài chính và cố gắng phát huy tính minh bạch của các chính sách kinh tế.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Thomas Boisson – Phân tích toàn cảnh các thiết chế quản trị toàn cầu – NXB CTQG 2003.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s