Xã hội thông tin

Ở nửa cuối thế kỷ XX, hệ thống TBCN đã thay đổi hẳn về chất. Ở các nước phát triển phương Tây đã hình thành một xã hội mới, đó là xã hội hậu công nghiệp (một số thuật ngữ quen sử dụng đối với loại xã hội này là: Xã hội thông tin, xã hội tiêu thụ, chủ nghĩa tư bản hiện đại). Xã hội này khác hẳn với xã hội tư bản chủ nghĩa cũ và lại càng khác xa so với chế độ phong kiến cuối cùng. Trong xã hội này đã xuất hiện những yếu tố mới, đó là: Thông tin xuất hiện trước, khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, còn nền kinh tế mnag tính chất phức tạp hóa cao.

Các nền kinh tế chính của xã hội hậu công nghiệp đã nhận được giá trị thặng dư. Giá trị thặng dư thừa có là do đã giảm được lượng chi phí sản xuất của từng xí nghiệp. Trong các xí nghiệp đó, thời gian chi phí để sản xuất ra sản phẩm đã giảm xuống thấp hơn mức giá trị cần thiết (hoặc là đã sản xuất được sản phẩm độc nhất, quý hiếm). Nguồn lao động sản xuất đã dồi dào hơn do áp dụng các công nghệ mới, và cũng còn là do phương pháp tổ chức sản xuất đã được hoàn thiện. Việc ứng dụng rộng rãi những thành tựu KHKT do đại bộ phận những người sản xuất lĩnh hội được cũng làm cho giá trị thặng dư tăng cao hơn nữa. Giá trị sản phẩm của xã hội này khác với các dạng khác ở chỗ nó được cấu tạo không phải từ ba mà là bốn thành phần:

+ Vốn thường xuyên C;

+ Vốn lưu động V;

+ Giá trị thặng dư m;

+ Giá trị thặng dư dư thừa m*;

Việc thu được giá trị thặng dư dư thừa m* là nhờ ở hiệu quả của sự năng động. Bản chất của sự việc này là: Không những phải biết tiến hành các biện pháp mới một cách đồng thời mà còn phải biết áp dụng những công nghệ mới và công nghệ cao để thu được lợi nhuận tối đa. Chính nguyên lý thu được lợi nhuận tối đa từ giá trị thặng dư dư thừa này đã tự nó thâm nhập vào mọi phạm vi của đời sống xã hội. Một “Xã hội tiêu thụ” đã xuất hiện, mà trong đó xã hội đó đối tượng tiêu thụ và nhu cầu tiêu thụ mới đang được hình thành. Mốt công nghệ, thần tượng, “ngôi sao” đang ảnh hưởng và luôn thay đổi nhanh chóng.

Tính chất rất phức tạp của nền kinh tế thể hiện ở số lượng các xí nghiệp có quan hệ tương hỗ lẫn nhau đang tăng lên. Sự xuất hiện đó tương tự như sự phát triển của cơ thể động vật. Việc chọn lựa một trong các khả năng phát triển đang thường xuyên diễn ra và việc  lựa chọn đó trở nên tất yếu. Nền kinh tế hiện nay không thể thay đổi một cách đột ngột (cải cách) mà nó chỉ có thể phát triển hơn theo từng bước của sự cải tổ. Tình trạng lộn xộn trong nền kinh tế của CNTB cũ đang được thay thế bằng cơ cấu điều tiết nền kinh tế trong xã hội hậu công nghiệp. Bộ máy nhà nước có ảnh hưởng to lớn đến việc cung cấp các đơn đặt hàng do chính sách điều tiết kinh tế đưa ra. Trong các hoạt động của mình, nhà nước nên dựa vào các nghiệp đoàn và trước hết là phải quan tâm đến lợi ích của các nghiệp đoàn đó. Ở giữa thế kỷ này, công nghệ mới, khoa học và việc bảo đảm thông tin đã đóng một vai trò quan trọng, làm thay đổi cơ bản lực lượng sản xuất. Đã xuất hiện nhóm sản xuất thứ 3 “V” là nhóm sản xuất khoa học công nghệ thông tin và tư liệu bảo đảm thông tin để bổ sung vào hai nhóm sản xuất “a” và “b” đã có trước đó (“a” là sản xuất ra tư liệu sản xuất, “b” là sản xuất ra đối tượng tiêu thụ).

Quy mô to lớn của nền sản xuất đang trở nên có lợi hơn trong việc thu hút nguồn vốn từ các phía: của Nhà nước cũng như của những người gửi tiền nhỏ. Hiện nay đang xuất hiện ba dạng vốn chính, là vốn Nhà nước, cổ phần và tư nhân; trong đó khoản vay quốc gia ở các nước đang phát triển là 30%, còn vốn cổ phần ở các nghiệp đoàn có nét giống như sở hữu tập thể. Như ở hãng General Motor một cổ phần bất kỳ có giá trị nhỏ hơn 1% tổng số vốn, còn số lượng cổ phần lại lớn hơn 1 triệu.

Việc thay đổi hệ thống quản lý được gọi là “cuộc cách mạng quản lý”. Nó khác với trước ở chỗ việc phân chia lợi nhuận phụ thuộc vào người chủ sở hữu của các xí nghiệp, họ chính là những người đứng ở vị trí lãnh đạo nghiệp đoàn, tham gia vào việc điều hành và là người quản lý xí nghiệp. Nói chung thì việc quản lý này chính là do người chủ điều hành, mà họ là người đang nắm một phần lớn cổ phiếu của xí nghiệp. Họ phân chia lợi nhuận cho những người nắm cổ phần sao cho cân đối với vốn đầu tư, phân phối vốn cho việc nghiên cứu khoa học kỹ thuật, chi phí cho quản lý, quảng cáo, tiêu thụ, kinh doanh. Trong trường hợp cần thiết họ có thể phân phối lại vốn giữa các xí nghiệp. Nói đúng ra thì xuất hiện một loại hình thứ hai trong lĩnh vực kinh tế đó là chỉ thị của chủ sở hữu.

Để thu được giá trị thặng dư dư thừa, đòi hỏi phải có trình độ tổ chức cao, chính xác trong công việc, phải có sự phối hợp linh hoạt. Điều đó có khả năng cải tổ lại quá trình sản xuất. Một trong những yếu tố chính ở đây là dựa vào sự quản lý trên nguyên tắc khoa học, dựa vào những quan điểm về khoa học, tổ chức, xã hội để điều hành nền sản xuất. Người quản lý được phép giải quyết toàn bộ trình tự các vấn đề cụ thể như: Xác định mục tiêu và nhiệm vụ của việc điều hành quản lý; nghiên cứu các biện pháp hành động sao cho đạt hiệu quả; tiến hành các nhiệm vụ theo từng dạng cụ thể; có sự phối hợp một cách nhịp nhàng giữa các đơn vị khác nhau; sắp xếp lại cơ cấu cho đúng trật tự; lạc quan trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ, tiến hành tìm hiểu tác phong lãnh đạo có hiệu quả và các hình thức để hành động. Tất cả những điều đó cho phép nhanh chóng đẩy mạnh việc tổ chức sản xuất và quản lý có hiệu quả.

Tóm lại, việc xuất hiện xã hội hậu công nghiệp và áp dụng kỹ thuật thông tin có ý nghĩa như một sự đột phá hùng hậu vào sự phát triển của xã hội. Có được lợi nhuận tăng lên ở nhiều nơi là do bản chất của sự việc chứ không phải do tăng bóc lột công nhân.

Các nguyên lý ban đầu đó đang mở ra một viễn cảnh bảo đảm thỏa mãn các nhu cầu ăn, mặc, ở cho nhân dân trên khắp hành tinh. Đã đến thời điểm cho phép xã hội hậu công nghiệp không còn bị hạn chế nữa.

Sự phân chia chủ yếu của thời đại hiện nay

Khi cuộc chiến tranh thông tin chống lại Liên Xô còn chưa chấm dứt thì lúc đó đã nảy sinh một mâu thuẫn chính của thời đại chúng ta, đó là mâu thuẫn giữa các nước phát triển (trước hết là nước Mỹ) và các nước còn lại của thế giới. Chính các nước phát triển ở phương Tây nhận được phần đáng kể lợi nhuận và ngày càng tăng nhờ các nước đang phát triển. Dân số của các nước phát triển là 1 tỷ người (thường được gọi là 1 tỷ “vàng”) trong tổng số 6 tỷ người trên toàn thế giới.

Vào đầu những năm 80, nhờ có sự phát triển vượt trội của công nghệ và thu được giá trị thặng dự, mà các nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong tiến bộ khoa học kỹ thuật, mức sống và sức sản xuất. Thí dụ, tiềm lực của Mỹ hiện nay mạnh đến mức chỉ cần 16% sức lao động là có thể sản xuất ra sản phẩm đủ để nuôi sống xã hội. Hiện nay đang diễn ra quá trình hội nhập, kết hợp lực lượng cảu các nước đang phát triển với nhau, thậm chí, một quốc gia lớn mạnh hiện nay cũng không thể có khả năng tự cung tự cấp, và nền kinh tế ở một quốc gia hạng trung cũng không thể hoạt động một cách có hiệu quả nếu không có sự liên kết hợp tác có lợi với các nước khác. Các nước Tây Âu đang tiến hành một thị trường chung thống nhất, và từng bước trở thành một liên minh chung. Để nền công nghệ phát triển vượt lên, điều cần thiết là phải tạo ra được những điều kiện để đẩy mạnh phát triển nghiên cứu khoa học, nhanh chóng áp dụng những thành tựu của khoa học, nâng cao học vấn, tạo được một mạng lưới thông tin sâu rộng trong quần chúng, có biện pháp hữu hiệu để bảo đảm thông tin tự do và bảo đảm an ninh xã hội, tạo được những điều kiện sống tương đối tốt cho nhân dân, nhất là cho công nhân. Thu nhập của các tầng lớp nhân dân trong xã hội hậu công nghiệp đã làm thay đổi mối tương quan giữa họ. So với thời kỳ chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn trước, hiện nay đã hình thành một cặp đối thủ trong xã hội, đó là công nhân và những người quản lý. Để tăng thêm giá trị thặng dư dư thừa theo nguyên tắc đề ra, họ có thể tìm ra được cách giải quyết theo cách này hay cách khác. Việc cần làm trước tiên hiện nay là cho phép sử dụng không chỉ tiềm năng sức lực mà còn sử dụng cả tiềm năng trí tuệ của xã hội nên đã tạo ra được giá trị thặng dư dư thừa. Trình độ nghề nghiệp, ý thức có trách nhiệm đối với công việc, thông thạo nghiệp vụ gắn liền với công nghệ mới đang đóng một vai trò đặc biệt quan trọng. Tất cả những điều đó rất có lợi cho việc nâng cao thời gian và cường độ lao động của công nhân.

Chủ nghĩa tư bản kiểu cũ đã rất chú trọng đến việc sử dụng sức lao động của công nhân trong nước và vơ vét nguyên liệu cướp được từ các nước thuộc địa. Nhưng trong những điều kiện hiện nay, điều đầu tiên cần làm là sử dụng hợp lý con người và tư tưởng của họ giữa các nước với nhau. Vì vậy những thành tựu khoa học và các chuyên gia có trình độ nghiệp vụ cao được sử dụng không chỉ ở những nước phát triển mà còn ở những nơi có điều kiện sống khá tốt. Trí tuệ trở thành hàng hóa có thu nhập cao. Việc “Chảy máu chất xám” trên diện rộng đã trở thành một đòn đánh vào các nước đang phát triển.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & :.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III – Cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TC II 1999.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s