Trên bản đồ chính trị thế giới, Việt Nam là một trong số ít các nước cộng sản còn sót lại. Nước này thường đứng ở vị trí dưới trong xếp hạng về nhân quyền và pháp trị, và đang kỷ niệm 30 năm thực hiện đường lối “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Việt Nam có nguy cơ bị đè bẹp giữa hành động hung hăng của Trung Quốc trên biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) và đòi hỏi đóng vai trò lãnh đạo của Mỹ trong khu vực. Tuy nhiên, có những dấu hiệu cho thấy Việt Nam trong trung hạn có khả năng phát triển thành một bên tham gia đầy ảnh hưởng trong khu vực Đông Nam Á.

:Nhưng lý do tôi có mặt tại đây vì Việt Nam có vai trò cực kỳ quan trọng không chỉ đối với khu vực, mà theo tôi còn với cả thế giới. Việt Nam là một đất nước lớn, năng động và đang phát triển trong một khu vực lớn, năng động, và đang phát triển của thế giới”. Ngay cả khi ai đó cho phép có một chút lịch sự chính trị trong lời nói này của Tổng thống Mỹ Barack Obama khi ông tới thăm Việt Nam đầu năm 2016, thông điệp chính vẫn rất rõ ràng: Đất nước này đã phát triển thành một bên tham gia quan trọng và có ảnh hưởng trong khu vực Đông Nam Á. Khi nhìn qua, nhận định này có thể gây ngạc nhiên, vì người ta sẽ trông đợi Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia và thậm chí cả Indonesia và Singapore trong danh sách các nước lớn và hùng mạnh của khu vực mở rộng. Điều gì làm cơ sở cho vị thế cao của Việt Nam, đất nước chỉ mới thoát khỏi sự hỗn loạn của một cuộc chiến tranh tốn kém trên mọi phương diện cách đây 40 năm, có tỷ lệ nghèo đói lên tới gần 60% cách đây 25 năm, và từng bị tách khỏi thế giới bên ngoài bởi nền kinh tế kế hoạch tập trung của mình? Sự nổi lên của Việt Nam chưa đựng những nguy cơ và phí tổn nào? Người ta có thể tìm thấy câu trả lời cho những câu hỏi này khi quan sát kỹ lưỡng hơn sự phát triển kinh tế, cách tiếp cận chính trị đa phương, vị trí địa chiến lược và tầm nhìn dài hạn cần thiết trong nghị trình chính trị của Việt Nam, cũng như tình hình nhân quyền và pháp trị tại đất nước này.

Tăng trưởng kinh tế

Việt Nam là một trong số các quốc gia châu Á có kinh tế tăng trưởng gần như liên tục trong gần 3 thập kỷ qua. Sự tăng trưởng kéo dài này được công nhận ở cả trong lẫn ngoài khu vực Đông Nam Á và là một trong số các lý do cho việc tầm quan trọng trong khu vực của Việt Nam đã gia tăng rõ rệt qua thời gian. Một trong các trụ cột cho thành công kinh tế của đất nước này là chương trình Đổi mới được thực hiện trong nửa cuối những năm 1980, mà từng bước đưa ra các cải cách chính sách kinh tế. Việc cân bằng giữa hệ thống cộng sản và cơ cấu kinh tế hiện đại, ít nhất có phần theo định hướng thị trường là một công việc khó khăn, nhưng về cơ bản Việt Nam dường như đã thực hiện được nhiệm vụ này. Dù thế nào trong cái gọi là “nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN”, các doanh nghiệp nhà nước được trung ương điều hành và trợ cấp phải chấp nhận cạnh tranh với một khu vực tư nhân rất năng động và có tinh thần kinh doanh mạnh mẽ. Hiện nay, sự cạnh tranh này cũng đã xuất hiện trong các lĩnh vực có tầm quan trọng chiến lược. Chẳng hạn, bà Nguyễn Thị Phương Thảo, người phụ nữ giàu nhất Việt Nam, giàu lên nhờ vào việc thành lập Vietjet Air, hãng hàng không tư nhân đầu tiên của nước này. Vietjet vừa mới trao hợp đồng mua 100 máy bay dân sự trị giá hơn 1 tỷ euro cho hãng Boeing. Nhưng không chỉ quá trình tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước, mà cả việc cải thiện các điều kiện cho đầu tư trực tiếp nước ngoài, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa cũng như loại bỏ độc quyền nhà nước đều đóng góp vào thành tích tăng trưởng kinh tế luôn ở mức trung bình 7% kể từ năm 1990.

Tình hình kinh tế tốt cũng phục vụ cho Đảng Cộng sản Việt Nam như là nền tảng hợp pháp, theo như khẩu hiệu: “Người dân đã có cuộc sống sung túc, vậy hãy tiếp tục ủng hộ chúng tôi”. Hay nói theo cách khác: “Nếu người dân có thu nhập tốt và nền tảng vững chắc cho cuộc sống, họ sẽ ít quan tâm đến việc đặt câu hỏi về chế độ chuyên quyền của đảng Cộng sản”. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, kể từ năm 2012, Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình thấp, và người lao động nước này có tiếng chăm chỉ. Tuy nhiên, “tấm huy chương kinh tế” cũng có mặt trái đầy nguy cơ của nó. Nếu nền kinh tế tăng trưởng yếu hơn rõ ràng so với dự báo trong một thời gian dài, lập luận về tính hợp pháp có thể được dùng để chống lại đảng và chính phủ.

Một trong số các chiến lược nhằm định hình và đảm bảo tăng trưởng kinh tế trong dài hạn là tiếp tục thúc đẩy quá trình quốc tế hóa các quan hệ kinh tế của Việt Nam. Các cuộc đàm phán về một hiệp định thương mại tự do với EU vừa mới kết thúc, và người ta trông đợi hiệp định sẽ được phê chuẩn trong năm 2016 hoặc 2017. Việt Nam cũng là thành viên của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), một hiệp định thương mại tự do giữa 12 nước thuộc khu vực Vành đai Thái Bình Dương, ngoài Mỹ và Việt Nam còn bao gồm Nhật Bản, Australia, Canada, Singapore và Mexico, hiệp định này đã được ký kết vào tháng 2/2016 và cần được tất cả các nước thành viên thông qua trong vòng 2 năm. Những hiệp định thương mại này hứa hẹn không chỉ một quan hệ đối tác chiến lược đa phương, mà còn cả việc giảm thuế quan cũng như loại bỏ các hàng rào thương mại mang tính điều chỉnh. Tuy vậy, các hiệp định thương mại tự do cũng có thể trở thành con dao hai lưỡi cho đảng và chính phủ, vì đi kèm với chúng là quá trình tư nhân hóa hơn nữa và sự bảo vệ đầu tư – và qua đó cả sự chắc chắn về pháp lý – điều mà các nước đối tác nhiều khả năng đòi hỏi. Ngoài ra, người ta không nên bỏ qua khía cạnh rằng Việt Nam có năng suất lao động tương đối thấp. Nông nghiệp và nghề cá vẫn là các ngành kinh tế quan trọng nhất. Cho dù Việt Nam là một trong số các quốc gia năng động nhất về kinh tế trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), nước này có sức mạnh kinh tế yếu nhất khi so sánh với các nước thành viên TPP khác trong khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, chính vì vậy mà Việt Nam có khả năng rất lớn tận dụng hết những ưu điểm của các hiệp định thương mại tự do, và nước này cũng được hưởng lợi rất nhiều từ các hiệp định này, trong đó có cả tầm quan trọng trong khu vực Đông Nam Á.

Cách tiếp cận đa phương

Quá trình quốc tế hóa thương mại của Việt Nam – và đi kèm với đó là sự gia tăng tầm quan trọng của chính sách ngoại thương và chính sách đối ngoại – không chỉ được phản ánh trong các hiệp định thương mại tự do. Sau hơn một thập kỷ đàm phán, Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO năm 2007. Việc gia nhập WTO đã mở ra các thị trường mới trên cấp độ toàn cầu cho nước này và đem lại thêm đầu tư nước ngoài. Đồng thời, việc mở cửa thị trường trong nước đã dẫn tới việc các doanh nghiệp nhà nước cũng như tư nhân của Việt Nam không chỉ bị ảnh hưởng bởi sự cạnh tranh trong nước vốn vẫn còn tương đối mới mẻ vào thời điểm đó, mà còn phải cạnh tranh với hàng hóa giá rẻ hơn và có chất lượng tốt hơn từ nước ngoài. Về trung hạn, việc này thúc đẩy một sự gia tăng trong khả năng cạnh tranh.

Cách đây hơn 1 thập kỷ, vào năm 1995, sự hiện diện của Việt Nam trong khu vực đã trở nên mạnh mẽ hơn khi nước này trở thành thành viên ASEAN. Ban đầu hiệp hội này tập trung vào hợp tác kinh tế, nhưng hiện nay các lĩnh vực chính trị và an ninh ngày càng trở thành một chủ đề trọng tâm của khối. Chắc chắn có rất nhiều hy vọng đặt vào ASEAN với tư cách một tổ chức khu vực, tuy nhiên những hy vọng này không phải lúc nào cũng trở thành hiện thực. Việt Nam ràng buộc tư cách thành viên ASEAn với hy vọng rằng nước này sẽ nhận được lợi ích kinh tế từ sự hội nhập vào ASEAN và nhìn chung có được ảnh hưởng nhiều hơn khi là thành viên của một liên minh lớn. Đồng thời, người ta cho rằng ảnh hưởng của ASEAN, với tư cách là một diễn đàn đa phương, cũng đóng góp vào việc giải quyết tranh chấp giữa các nước trên cấp độ khu vực theo một phương thức hòa bình và ngoại giao. Tuy nhiên khi xét tới những thách thức lớn, người ta cũng nên nhận thức rõ về những điểm yếu của ASEAN. ASEAN là một liên minh không đồng nhất về mặt chính trị. Các hệ thống chính phủ tại đây bao gồm các nền dân chủ hoạt động nửa vời, nền quân chủ, chế độ chuyên chế, chính quyền quân sự cho tới các nhà nước cộng sản độc đảng. Trong nội bộ có những thù địch trong lịch sử (chẳng hạn giữa Việt Nam và Campuchia) và tranh chấp biên giới (chẳng hạn giữa Indonesia và Malaysia), mà vẫn có tác động tiêu cực tới các quan hệ hiện nay. Bên ngoài, mỗi nước thành viên lại có các liên minh có tầm quan trọng khác nhau với các nước như Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Australia hay Nga. Khi xét tới sự đa dạng này, việc tất cả các quyết định của ASEAN cần tới sự thống nhất hoàn toàn có thể lại là một sự cản trở trong một số trường hợp.

(còn tiếp) 

Nguồn: Konrad Adenauer Stigtung – 10/10/2016

TLTKĐB 28/10/2016

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s