Vào những năm 80, châu Âu rõ ràng đã trở thành khu vực của đồng mark Đức, nhịp độ luân chuyển của nó phụ thuộc nhiều vào khả năng cạnh tranh và chính sách tiền tệ – tín dụng của Đức. Vào cuối những năm 80, cùng với việc gạt bỏ những đề nghị của Pháp về việc giám sát sự luân chuyển các nguồn vốn trong khuôn khổ EEC, áp dụng trong phạm vi chính sách tiền tệ Cộng đồng châu Âu đường lối ổn định hóa theo quan điểm tiền tệ với sự bá quyền lãnh đạo của Bundesbank.

Những biểu hiện cạnh tranh giữa các nước của châu Âu trong giai đoạn đó đã phá vỡ các kế hoạch liên kết tiếp sau, mặc dù chúng (dưới dạng thành lập liên minh kinh tế tiền tệ) đã được bàn bạc sôi nổi tại cuộc gặp gỡ thượng đỉnh La Haye (năm 1969). Chính sách bảo hộ mậu dịch mới dưới hình thức tự nguyện hạn chế xuất khẩu và các hiệp ước giữa EEC và các nước khác đã được mở rộng. Kết quả là, vào những năm 70, buôn bán qua lại trong cộng đồng bị đình trệ (mặc dù tổng khối lượng thương mại tăng), các biện pháp như hàng rào phi thuế quan và trợ cấp công nghiệp được áp dụng nhiều hơn. Thường diễn ra các cuộc tranh luận về việc quản lý trong nội bộ, việc cấp phát tài chính, về các quỹ mới cho liên kết khu vực.

Từ những năm 60 đến những năm 80, những ý kiến về chính sách công nghiệp tích cực đã đưa ra ở các cấp khác nhau, nhưng chúng đã bị bác bỏ. Mặc dù có các cuộc khủng hoảng dầu mỏ vào những năm 70, nhưng ngay cả chính sách năng lượng chung cho châu Âu vẫn chưa được vạch ra. Các núi bơ ô nhục to lên nhờ chính sách nông nghiệp đã cho thấy các thể chế châu Âu không có khả năng giải quyết vấn đề cạnh tranh nội bộ giữa các thành viên EEC.

Sự kéo dài suy thoái kinh tế đã đánh dấu giai đoạn mới của CNTB châu Âu. Bắt đầu từ những năm 80 tốc độ tăng GDP của châu Âu so với hai khối liên kết khu vực khác luôn thấp hơn và tính trung bình không vượt quá 3%, ngay cả trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ vào nửa năm 90. Trong khi ở Nhật Bản, trong suốt những năm 90, thất nghiệp dừng ở mức tương đối thấp, còn ở Mỹ thì giảm, nhưng ở châu Âu nó liên tục tăng mặc dù dân số không tăng. Từ những năm 80, mức thất nghiệp của châu Âu đã vượt 10%. Ở một số nước ví dụ như Phần Lan, Pháp, Tây Ban Nha, tình trạng thất nghiệp có tính thảm họa, ở một số nước khác, tình hình có khá hơn một chút, nhưng ở những nước này, lực lượng lao động dự bị đã tiếp nhận các hình thức làm việc khác (lao động một phần thời gian, lao động không trọn ngày).

Không thể xem xét xung lượng mới của việc liên kết kinh tế trong khu vực tách rời thế bí của CNTB châu Âu và quá trình toàn cầu hóa ngày một mở rộng. Chẳng hạn, đối với các nước phụ thuộc vào nền kinh tế của các nước hàng đầu châu Âu khó đứng ngoài cuộc hơn. Việc gia nhập vào EEC của Hy Lạp (năm 1981), của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha (năm 1986) chủ yếu là để mở rộng vai trò của nước này với tư cách là các vùng sản xuất có chi phí thấp (đặc biệt là đối với các công ty của Đức) và các thị trường nội địa mới của khối liên kết. Sự cần thiết đảm bảo các thị trường hàng hóa và đầu tư trong bối cảnh nền kinh tế thế giới không ổn định là nguyên nhân thu hút Áo, Phần Lan và Thụy Điển vào EU (năm 1995). Lôgích phụ thuộc lẫn nhau này tồn tại cả trong vấn đề thu hút Đông Âu vào EU. Chính thế bí về kinh tế đã đưa lại khoảng rộng về chính trị cho các dự án thị trường chung và dồng tiền thống nhất, những cái mà hiện nay đang là cơ sở cho kết cấu của CNTB châu Âu.

Sáng kiến quan trọng nhất về việc củng cố thị trường là văn kiện thống nhất châu Âu năm 1987. Nó đã dự định hoàn tất việc xây dựng thị trường chung vào năm 1992. Dự án năm 1992 lại tiếp tục tự do hóa nội thương trên cơ sở cân đối các quy tắc điều tiết và các chuẩn mực kỹ thuật, loại bỏ các hàng rào phi thuế quan, các hạn ngạch và các hình thức kiểm soát hàng hóa và dịch vụ khác ở biên giới, cũng như tất cả các hình thức kiểm soát luân chuyển vốn trong phạm vi EU.

Cho dù tính chất của quá trình liên kết kinh tế còn phải tranh cãi và chưa ổn định đến mức nào chăng nữa, thì quá trình đó vẫn chuyển động về phía trước, trong khi đó sự liên kết về chính trị và xã hội đã gặp phải sự chống đối mạnh mẽ và kiên trì. Điều đó có nghĩa là, CNTB châu Âu vẫn chỉ là một sự thống nhất yếu ớt của nhiều bộ phận khác nhau, cùng được duy trì bởi kết cấu thị trường thống nhất đang xuất hiện.

Hiệp ước Maastricht năm 1992 và đồng tiền chung “Euro” đã trở thành những hòn đá tảng của trật tự châu Âu mới. Hệ thống tiền tệ châu Âu cũng là một cấp độ nhất định của sự hội tụ tiền tệ và hạn chế sử dụng phá giá để cạnh tranh. Việc xóa bỏ hoàn toàn chế độ kiểm soát việc luân chuẩn tư bản trên thị trường chung đã làm tăng sự hội tụ tiền tệ. Tự do hóa tài chính được hướng vào việc đem lại khả năng để các trung tâm tài chính châu Âu chiếm lĩnh các vị trí hàng đầu trên thế giới. Việc thành lập Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) từ 1/1/1999 đã xác lập các khuôn khổ thể chế mới cho phương thức điều tiết tự do hóa của châu Âu. Ngay từ đầu, giám đốc ECB V. Dujzenberg đã nhiệt tình bảo vệ chính sách hạn chế ngân sách và kiềm chế lạm phát ở mức dưới 2%. Trên con đường này, ECB đang tăng cường chức năng mà trước đây do Bundesbank thực hiện, là thực thi chính sách kinh tế vĩ mô có giới hạn và “không phụ thuộc” và bất kỳ áp lực chính trị nào. ECB kiên quyết chống lại việc áp dụng chính sách bành trướng dù là bành trướng ở mức vừa phải, đặc biệt là khi đồng Euro còn phải chiếm lĩnh các vị thế trên thị trường tiền tệ và chiếm vị trí là đồng tiền dự trữ của đồng đôla Mỹ.

Ngay cả việc giảm chút ít lãi suất cho vay, giống như ý kiến đề nghị của bộ trưởng tài chính Đức O. Lafonten vào đầu năm 1999, cũng đã gây nên sự phận nộ của ECB. Sự đối đầu này và việc ra đi sau đó của Lafonten khỏi chức vụ của mình trong sự phản đối mạnh mẽ các quan điểm phần nào tả khuynh của ông cho thấy những vấn đề và khó khăn của trật ự châu Âu mới. Kết cấu mang tính châu lục đã xuất hiện từ sự phát triển mạnh mẽ và cuộc khủng hoảng của CNTB châu Âu thời kỳ sau chiến tranh, mà ECB là bộ phận cấu thành quan trọng của kết cấu đó, đang đặt ra một thách thức có tính quyết định trước nền dân chủ – xã hội của châu Âu.

Việc cơ cấu lại và tăng cường liên kết của CNTB châu Âu đang tạo cơ sở cho việc tiến hành cải cách đồng thời các phương hướng chính trị của chế độ dân chủ – xã hội. Vào những thời kỳ bình yên, trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, chế độ dân chủ – xã hội đã tiến hành tăng lương và mở rộng các chức năng của nhà nước. Ở những nước mà lực lượng dân chủ – xã hội nắm chính quyền (Thụy Điển, Áo) các mô hình thể chế được áp dụng có đặc điểm nổi trội hơn, nhưng ở các nước thành viên khác của Cộng đồng châu Âu, người ta đã đưa ra các cơ cấu đàm thoại và thực thi chính sách phân phối lại các thu nhập, nhằm giúp đỡ những người nghèo đói cho dù đó là những người thất nghiệp hay những vùng hoàn toàn đình đốn.

Tuy nhiên, sự giảm tốc tăng trưởng và tăng cường cạnh tranh vào những năm 70 khủng hoảng đã dẫn đến sự leo thang của tình trạng căng thẳng. Phản ứng của phong trào công nhân các nước đối với những thay đổi này là khác nhau: một số phong trào theo quan điểm chờ thời cơ, còn một số khác thì bước vào con đường cấp tiến hơn. Các kết quả của cả hai chiến lược này đã trở thành đối tượng rất được chú ý của nhau và được phân tích nhằm rút ra các bài học. Dưới sức ép của các thách thức mới (từ phía tả cũng như từ phía hữu), kinh nghiệm của Pháp, Thụy Điển và Đức có ý nghĩa đặc biệt về phương diện đánh giá sức sống của các chiến lược thuộc chế độ dân chủ – xã hội thời kỳ sau chiến tranh – đó là luận thuyết Keynes dân tộc và chủ nghĩa cục bộ mang tính cạnh tranh.

Bản chất của chủ nghĩa cải cách dân tộc

Kinh nghiệm lãnh đạo của Mitteran ở Pháp đã được nhiều người coi là bài học quan trọng. Kinh nghiệm này đã làm lung lay thực sự luận thuyết chính thống của Keynes vào những năm 80 – một luận thuyết thống trị trong phong trào dân chủ – xã hội châu Âu thời kỳ sau chiến tranh. Những người phái tả Pháp đi theo chiến lược có sự can thiệp tích cực của nhà nước, phân phối lại phần lớn các thu nhập và quốc hữu hóa trên quy mô lớn và điều đó được tạo nên bởi tinh thần dũng cảm chiến đấu của giai cấp công nhân và sự liên minh của những người dân chủ – xã hội với những người cộng sản trên cơ sở “Cương lĩnh chung” của những năm 70. Lên nắm chính quyền nhờ kết quả của các cuộc bầu cử năm 1981, do suy thoái kinh tế chính phủ XHCN đã bắt tay vào thực hiện phương án giảm nhẹ cương lĩnh này. Nhưng điều đó đã gặp phải sự phản đối quyết liệt của giới tư sản dân tộc và tư sản quốc tế thể hiện qua việc rút vốn hàng loạt. Chính phủ đã phải nhanh chóng từ bỏ phương án đó và sau năm 1982 đã tiến hành điều tiết nghiêm khắc, phá giá đồng franc, tăng các thuế và bãi bỏ chỉ số hóa tiền lương.

Sự thay đổi mạnh mẽ này tượng trưng cho sự kết thúc của luận thuyết Keynes với tính cách là cơ sở hiệu dụng của chiến lược tạo việc làm đầy đủ ở một nước cụ thể, đã làm lộ rõ tính hạn chế của nó trong bối cảnh liên kết, và đình trệ của nền kinh tế thế giới. Các nguyên nhân của hiện tượng này ở Pháp (cũng như ở các nước khác) mang cả tính chính trị và kinh tế.

(còn tiếp) 

Người dịch: Vũ Xuân Mai

Nguồn: TN 2000 – 78 & 79

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s