Việc tạo khung của Bill Clinton

Những cáo buộc về lăng nhăng tình ái và khuất tất tài chính đã làm điên đầu Tổng thống Bill Clinton trong suốt thời gian cầm quyền của mình, và công chúng đã trở nên bi quan về tính trung thực và tư cách đạo đức của ông. Tuy nhiên, khi tranh cãi trở nên gay gắt hơn vào tháng Giêng 1998 với những lời buộc tội được công bố về sự dính líu tình ái với một nhân viên thực tập tại Nhà Trắng, thì tỷ lệ tán thành cách làm việc của Clinton trong Cuộc trưng cầu Gallup đã đạt tới 69%, là tỷ lệ cao nhất trong thời gian cầm quyền của ông, và vẫn giữ ở xấp xỉ mức này trong nhiều tháng sau đó. Nhiều người Mỹ rõ ràng đã có sự tách bạch dứt khoát giữa Clinton với tư cách là một con người – họ vẫn có những hoài nghi nghiêm trọng về tư cách đạo đức của ông – với các chính sách của ông – họ khen ngợi ông về việc có một nền kinh tế lành mạnh, một kế hoạch ngân sách liên bang cân đối; giảm tỷ lệ phạm tội, tình trạng dựa vào phúc lợi, và việc làm mẹ khi chưa kết hôn. Như vậy, họ đã không đếm xỉa tới cái khung do việc đưa tin một cách ám ảnh của các phương tiện truyền thông về vụ bê bối (cũng như về những cáo buộc trước đó liên quan đến những khuất tất tài chính trong chiến dịch vận động tranh cử), mà thay vào đó phản ứng trước những điều kiện mà họ có quyền lợi cá nhân liên quan trực tiếp hơn: việc làm, lạm phát và vấn đề tội phạm.

Tỷ lệ tán thành của công chúng liên tục ở mức cao dành cho Clinton đến hết năm 1998 và sang tới năm 1999 đã không ngăn được các đảng viên Cộng hòa trong Quốc hội cố gắng hất ông khỏi ghế tổng thống thông qua hành động luận tội, nhưng đã ngăn khả năng thành công của họ. Với đại đa số cử tri Dân chủ và cử tri độc lập chống lại nỗ lực của những người Cộng hòa, các đảng viên Dân chủ trong Quốc hội đã cảm thấy dễ dàng về mặt chính trị khi chống lại việc buộc trọng tội và ngăn cản việc kết án. Những người Cộng hòa trong Quốc hội đã phải đối mặt với một khả năng lựa chọn khó khăn hơn: lưu ý đến 2/3 dân chúng chống lại việc buộc trọng tội hay lưu ý đến 2/3 cử tri Cộng hòa (và ¾ các nhà hoạt động của Đảng Cộng hòa), những người muốn Clinton bị loại bỏ. Có chưa đầy một nhúm trong số họ đứng về phía những cử tri ruột của đảng mình.

Sự ổn định tổng thể của các quan điểm công chúng thể hiện, theo một cách thường là không rõ nghĩa và không được xác lập cụ thể, rằng mọi người vẫn có được cơ sở thực tế cho những quan điểm mà họ thể hiện. Họ không đáp lại những người dẫn dắt quan điểm một cách ngẫu nhiên, mà đáp lại theo những cách nhất quán với các giá trị và ý niệm về chính trị mà họ đã tích lũy được trong cuộc sống của mình. Các lối tắt về nhận thức sẽ không có giá trị gì nếu như chúng không đưa đến một nơi nào đó gần với điểm đến mà họ đáng ra đạt tới được nếu đi theo những lối đi dài hơn. Những đại diện có thể bị thải hồi; vì vậy, những người dẫn dắt quan điểm thường dẫn dắt bằng cách thể hiện những thái độ chính trị của những người đi theo họ. Điều này giải thích vì sao các chính trị gia, những người nhận thức được đầy đủ về mức độ không ổn định và nghèo thông tin có thể có trong quan điểm thể hiện của mọi người, thường vẫn phải suy nghĩ thật kỹ càng về việc tiến hành các cuộc thăm dò. Quan điểm tổng thể rất có ý nghĩa, và những con số tổng thể là những gì tạo nên ý nghĩa khi một chính trị gia đang vận động tái cử hay đang cố gắng làm cho một dự luật được thông qua.

Nội dung của công luận

Các quan điểm chính trị thường phản ánh những giá trị và niềm tin cơ sở của mọi người về cách mà thế giới vận hành. Thực tế này cũng đúng không kém với những quan điểm qua tai lần thứ hai (second-hand) hay lần thứ ba (third-hand) – những quan điểm mà tuần tự bắt nguồn từ một người khác hay từ một người dẫn dắt quan điểm thông qua một người khác – so với những quan điểm gốc, là những quan điểm được hình thành thông qua sự trải nghiệm cá nhân. Sở dĩ như vậy là bởi vì các giá trị và niềm tin cốt lõi thường ảnh hưởng đến việc lựa chọn người lãm mẫu (crue-giver) của mọi người (hãy nhớ lại những ai lắng nghe Rush Limbaugh và những ai lắng nghe Micheal Moore). Người Mỹ chia sẻ một sự đồng thuận rộng rãi về những giá trị chính trị cơ bản, những giá trị đặt ra các giới hạn thực tế về sự khả thi chính trị. Tuy nhiên, trong phạm vi những ranh giới này, người Mỹ cũng thường thấy rất nhiều thứ không thể nhất trí với nhau. Sự đồng thuận về những vấn đề cơ bản khiến cho chính trị – ở đây được định nghĩa là việc đạt tới thỏa thuận về đường lối hành động chung, hay hành động tập thể bất chấp có sự bất đồng về mục đích của hành động – trở nên khả thi; sự bất đồng trong phạm vi sự đồng thuận chung này làm cho chính trị trở nên cần thiết.

Sự đồng thuận về hệ thống

Các cuộc thăm dò quan điểm thấy rằng mọi người Mỹ đều ủng hộ cho những rường cột thể chế của nền dân chủ hiện đại: quyền bỏ phiếu của mọi công dân; quyền tự do nói, viết và làm việc với những người khác vì các mục tiêu chính trị; quyền được hưởng quy trình tố tụng đúng và đối xử bình đẳng của các tòa án và các cơ quan chính quyền khác. Mặc dù mỗi trong số những nguyên tắc này đã từng gây tranh cãi, song sự phản đối chúng giờ đây hầu như đã biến mất khỏi đời sống công chúng. Các đa số lớn cũng ủng hộ một nền kinh tế cơ bản chủ nghĩa, được định nghĩa là một nền kinh tế mà trong đó các doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu tư nhân, các thị trường tự do phân bổ hàng hóa, mọi người được lựa chọn nghề nghiệp của riêng mình, và thu nhập phụ thuộc vào giá trị của các dịch vụ được đưa ra. Không một người nào có những tham vọng nghiêm túc về vị trí lãnh đạo chính trị lại công kích chế độ dân chủ hay tự do kinh doanh.

Tuy nhiên, khi liên quan đến việc áp dụng thực tiễn những giá trị trừu tượng này, sự đồng thuận lại bị phá vỡ. Khi một cuộc thăm dò được tiến hành vào năm 1940 đặt câu hỏi cho một nhóm mẫu những người Mỹ rằng “Bạn có tin vào tự do ngôn luận hay không?”, 97% trả lời có. Khi những người trả lời có được hỏi “Bạn có tin vào nó đến mức cho phép những tên phát xít và người cộng sản được tiến hành tụ tập và thể hiện quan điểm trước cộng đồng không?”, 76% trả lời không. Năm 1940, năm mà những câu hỏi này được đặt ra, chiến tranh đang lan rộng khắp châu Âu, và cả chủ nghĩa phát xít lẫn chủ nghĩa cộng sản đều nổi lên như những mối đe dọa nghiêm trọng. Nhưng ngay cả vào những thời điểm yên ắng hơn, nhiều người – những người nói rằng họ ủng hộ các quyền trong Tu chính án thứ nhất – sẽ phủ nhận việc dành các quyền đó cho những người có quan điểm không phổ biến. Các cuộc thăm dò được tiến hành vào giữa thập nhiên 1970 cho thấy 82% nhất trí rằng “không ai có quyền nói với một người khác những gì mà anh ta nên hay không nên đọc”, nhưng cũng có 50% nhất trí rằng “những cuốn sách có nội dung hướng tới việc lật đổ chính quyền cần được cấm đưa vào các thư viện”. Khi giá trị trừu tượng của việc tự do biểu đạt rốt cuộc đi theo hướng bất lợi cho các vấn đề hiện hữu hơn là an ninh quốc gia hay trật tự xã hội, thì tự do biểu đạt không phải lúc nào cũng giành được sự ủng hộ hàng đầu. Vì vậy, điều quan trọng là phải lưu ý rằng tự do ngôn luận và các giá trị dân chủ khác thường nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ hơn từ thiểu số người Mỹ, những người có chuyên mô về chính trị; những người tham gia vào trò chơi chính trị thường ủng hộ nhiều hơn các quy tắc của nó. Khi chính quyền của George W. Bush đề nghị chương trình “Chiến dịch TIPS” một chương trình tuyển mộ những công dân về giao thông vận tải, nhân viên dịch vụ công cộng, người đưa thư và cá nhân những công dân khác để báo cáo về các hoạt động đáng ngờ đối với chính phủ như là một phần của cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố, các thành viên quốc hội thuộc cả hai đảng đều đã phản đối và thông qua một dự luật để giết chết chương trình này.

Các giá trị chính trị cơ bản khác cũng được lập hàng rào bảo vệ. Các nhóm đa số lớn nói rằng họ ủng hộ tự do kinh doanh và không thích chính quyền nhúng mũi vào nền kinh tế, nhưng các đa số lớn cũng không kém lại ủng hộ cho các đạo luật điều tiết doanh nghiệp để bảo vệ môi trường sức khỏe và sự an toàn của công nhân và người tiêu dùng. Một lần nữa, những người chú ý nhiều hơn đến chính trị thường có mức độ thừa nhận cao hơn đối với những ảnh hưởng của một lập trường đối với một lập trường khác và đưa ra những tập hợp quan điểm nhất quán hơn. Nhưng hầu hết mọi người đều đưa ra những giá trị và quan điểm chính trị xung đột nhau. Khi buộc phải lựa chọn, mọi người phải cân nhắc đến những cuộc đánh đổi; đôi khi xung đột chính trị và sự thỏa hiệp lại diễn ra ngay trong đầu ta.

Tại một mức độ nào đó, các giá trị của nền dân chủ và chủ nghĩa tư bản không tương thích với nhau. Nền dân chủ đối xử với mọi người dân như những thực thể công bằng và cho phép đa số quyết định. Chủ nghĩa tư bản lại tán dương tự do, chứ không phải là bình đẳng. Nó phân phối các phần thưởng của mình một cách không công bằng và trao những quyết định kinh tế quan trọng sống còn ( cần sản xuất sản phẩm nào, mang lại những vị trí công việc nào, xây dựng các nhà máy ở đâu) vào tay các cá nhân và tập đoàn tư nhân – những thực thể mà mục tiêu của chúng là lợi nhuận. Nỗi lo sợ rằng nền dân chủ sẽ đem lại sự hủy hoại kinh tế bằng cách cho phép các đa số dân chúng hủy hoại thiểu số giàu có là một lý do trung tâm đứng đằng sau điều khoản thận trọng của Hiến pháp về việc tránh tình trạng nắm quyền trực tiếp của người dân. Nhưng nỗi sợ này tỏ ra là không có cơ sở bởi vì người Mỹ thường có sự phân biệt rạch ròi về những thể loại bình đẳng mà họ coi là thích hợp. Gàn như tất cả mọi người đều ủng hộ sự bình đẳng về chính trị. Mức độ ủng hộ cho cơ hội bình đẳng ít ra cũng mạnh không kém: những phát biểu như “mọi người dân ở Mỹ cần phải có quyền bình đẳng để làm mọi việc” và “trẻ em cần có cơ hội học hành bình đẳng” được chấp nhận gần như hoàn toàn khi được đặt trong những cuộc thăm dò quan điểm. Người Mỹ cũng ủng hộ thực hiện mức lương bình đẳng cho công việc ngang bằng nhau và nói chung phản đối việc phân biệt đối xử chống lại bất kỳ lớp người nào (phụ nữ, sắc tộc thiểu số và người đồng tính) trong vấn đề việc làm.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s