Tuy nhiên, rất ít người dân ủng hộ việc thực hiện thu nhập bình đẳng. Khi được hỏi rằng, theo một chế độ kinh tế công bằng, liệu tất cả mọi người sẽ kiếm được những khoản tiền ngang nhau hay những người có khả năng hơn sẽ có được mức lương cao hơn, 7% chọn phương án thứ nhất, 78% chọn phương án thứ hai. Cũng không có nhiều người ủng hộ cho các chương trình hành động đền bù được dự định thay đổi sự phân biệt đối xử trước đây chống lại phụ nữ hay các nhóm thiểu số bằng cách đặt họ đứng đầu tiên trong hàng người hướng tới những vị trí công việc và nhập học. Khi được hỏi liệu “khả năng được xác định bằng điểm kiểm tra” hay đối xử đặc biệt “để sửa lại tình trạng đối xử trước đây” sẽ tác động đến những quyết định về việc làm và nhận vào học tại trường cao đẳng, các đa số áp đảo chọn khả năng về điểm kiểm tra (mặc dù các hình thức hành động đền bù mơ hồ hơn cũng thường được ủng hộ – cách dùng từ đặt câu hỏi cũng có mức độ ảnh hưởng cao đến kết quả trong lĩnh vực này). Kết quả là người Mỹ, vốn đã được biết đến từ thời của Alexis de Tocqueville về các giá trị xã hội và chính trị bình quyền của mình, thường chấp nhận những khác biệt to lớn về tiền tài và phúc lợi trong các cá nhân và các nhóm.

Chính trị gia: Một lớp người đáng ngờ

Người Mỹ có tỷ lệ ủng hộ áp đảo đối với hệ thống chính trị Mỹ và những biểu tượng của nó; niềm tự hào về Hiến pháp và lá cờ gần như rất phổ biến. Tuy nhiên, họ thường có mức độ hài lòng thấp hơn nhiều đối với những người mà họ bầu ra để vận hành hệ thống này. Chỉ trích chính quyền là một trò tiêu khiển quốc gia với phả hệ thậm chí còn dài hơn phả hệ của môn bóng chày, nhưng sự thiếu tin tưởng của dân chúng vào chính quyền và những công chức hành chính đã trở nên sâu sắc hơn rất nhiều trong nửa cuối thế kỷ XX. Hình 10 – 8 truy nguyên xu thế hoài nghi đang thay đổi về chính quyền thông qua một tập hợp các câu hỏi vốn đã liên tục được đặt ra trong Nghiên cứu bầu cử quốc gia – một ấn phẩm được xuất bản hai năm một lần. Với mức độ lớn hơn nhiều so với các thập niên 1950 và 1960, người Mỹ trong những năm gần đầy nghiêng về hướng tin rằng các quan chức công quyền là những người quanh co và rằng chính quyền làm lãng phí tiền thu từ thuế, không thể được tin cậy để làm những điều đúng đắn, bị chi phối bởi một số mối quan tâm béo bở vì lợi nhuận của riêng họ, và không quan tâm đến những người dân thường.

page-7

Cách giải thích phổ biến nhất cho những xu hướng này là những mâu thuẫn về quyền công dân và cuộc chiến tranh ở Việt Nam vào những năm 1960, ngay sau đó là vụ bê bối Watergate khiến tổng thống phải rời khỏi nhiệm sở (lưu ý những tỷ lệ sụt giảm mạnh vào năm 1974), đã khiến báo giới công kích mạnh hơn còn công chúng thì vỡ mộng. Lòng tin được phục hồi phần nào nhờ nền kinh tế vào năm 1984, nhưng những vấn đề sau đó, bao gồm nền kinh tế trì trệ dưới thời Bush (1989 – 1993), thâm hụt ngân sách liên bang nặng nề, các vụ bê bối chính trị tràn lan, tỷ lệ tội phạm cao và một niềm tin phổ biến rằng nước Mỹ đang đi sai đường đã khiến dân chúng mất tin tưởng cao độ vào chính quyền.

Kết quả là có một sự ủng hộ rộng khắp của dân chúng đối với các biện pháp nhằm kiềm chế các chính trị gia: những giới hạn nhiệm kỳ đối với các nhà lập pháp, các điều khoản sửa đổi Hiến pháp buộc Quốc hội phải cân đối ngân sách, các cuộc trưng cầu dân ý quốc gia trong đó các cử tri sẽ được phép có tiếng nói trực tiếp trong việc làm luật bằng cách đặt họ vào một cuộc bỏ phiếu kín quốc gia. Một phần lớn trong sự hấp dẫn của Ross Perot, người giành được 19% số phiếu bầu với tư cách là một ứng cử viên tổng thống độc lập vào năm 1992, là hình ảnh của ông với tư cách là người đấu tranh bênh vực những cải cách chính trị được dự định để làm cho các quan chức dân cử có trách nhiệm hơn đối với người dân thường. Bất cứ thái độ công chúng nào phổ biến như thế này thường có những người bảo trợ chính trị đứng đằng sau. Quả thực, một phần trong chiến lược của Đảng Cộng hòa để giành quyền kiểm soát Quốc hội trong cuộc tuyển cử 1994 là một lời hứa sẽ tạo ra những tu chính án Hiến pháp để áp đặt các giới hạn nhiệm kỳ và một kế hoạch ngân sách cân đối. Trong Hinh 10 – 8, ba trong số các thước đo lòng tin đã đạt tới những điểm thấp nhất vào năm 1994, bằng chứng về nỗi giận dữ đối với chính quyền mà những người Cộng hòa vừa góp phần thổi bùng lại vừa khai thác để thắng thế trong Quốc hội.

Lòng tin vào chính quyền phục hồi trở lại với nền kinh tế đang tăng trưởng và kế hoạch ngân sách cân đối trong nhiệm kỳ thứ hai của Clinton, nhưng vẫn ở mức thấp hơn nhiều so với vào thập niên 1950. Xu hướng này tiếp tục diễn ra qua năm đầu tiên trong cương vị tổng thống của George W. Bush cho đến khi những cuộc tấn công khủng bố vào nước Mỹ thực sự xác định lại vấn đề này. Sự kiện ngày 11 tháng Chín và những vấn đề sau đó đã tạo ra một tác động ngay lập tức và nhanh chóng lên cách người Mỹ trả lời những câu hỏi thăm dò về chính quyền của mình và các nhà lãnh đạo. Không chỉ tỷ lệ tán thành dành cho Bush đạt đến các mức cao kỷ lục, mà tỷ lệ tán thành Quốc hội (84% trong một cuộc thăm dò, bao trùm lên cả mức cao nhất lần trước là 57%) và tỷ lệ tán thành các nhà lãnh đạo Quốc hội cũng vậy. Tỷ lệ những người nói rằng họ “luôn luôn” hoặc “phần lớn thời gian” tin cậy để cho chính quyền ở Washington làm những điều đúng đắn – là tỷ lệ luôn ở dưới 45% trong mọi cuộc thăm dò kể từ vụ bê bối Watergate vào năm 1974 và đã sụt xuống mức rất thấp là 18% vào đầu thập niên 1990 – đãnhảy lên đến 56%. Sự tăng mạnh về mức độ ủng hộ được thể hiện đối với chính quyền và các nhà lãnh đạo của nó phản ánh một sự thay đổi căn bản trong bối cảnh mà theo đó mọi người nghĩ về những câu hỏi này. Dưới cuộc tấn công chết người của kẻ thù nấp trong bóng tối ở ngoài, người Mỹ đã tập hợp đằng sau chính quyền của mình với tư cách là người bảo vệ và sự hiện thân thể chế của nền dân chủ Mỹ. Trong một khoảng thời gian, các chính trị gia và quan chức công quyền được hưởng một dạng ủng hộ rộng rãi của dân chúng vốn thường chỉ dành cho các biểu tượng quốc gia như lá cờ và Hiến pháp. Hơn nữa, cuộc tấn công khủng bố là một điều gợi nhớ mạnh mẽ đến sự cần thiết phải cómột chính quyền có khả năng tổ chức và duy trình hành động tập thể để theo đuổi loại hàng hóa công cộng căn bản nhất – an ninh trước sự tấn công từ nước ngoài. Trong bối cảnh này, những khó chịu và nỗi thất vọng thông thường mà mọi người dành cho chính quyền đã trở thành nhân tố thứ yếu. Tuy nhiên, thái độ dân chúng này không tồn tại được qua đợt trỗi dậy của chính trị trở lại xu hướng thông thường và trong những bất đồng đảng phái ngày càng gay gắt xung quanh việc giải quyết cuộc chiến ở Iraq và những quyết định khác mà chính quyền Bush tạo ra.

Công luận về các vấn đề

Sự nhất trí của dân chúng về những yếu tố căn bản của nền dân chủ đại nghị không đồng nghĩa với sự nhất trí về mọi lĩnh vực chính sách quan trọng. Tại mỗi trong số ba lĩnh vực rộng lớn – nền kinh tế, đạo lý xã hội và chính sách đối ngoại – các vấn đề trung tâm đã nhất quán tạo ra những sự phân chia quan điểm rộng rãi. Điều quan trọng là phải hiểu được những khác biệt này chia rẽ công chúng ra sao bởi vì những bè phái này là thứ vật liệu thô để các nhà lãnh đạo chính trị cố gắng xây dựng các liên minh đa số. Khi công chúng bị chia rẽ theo những cách khác nhau về những vấn đề khác nhau, và thiếu sự đồng thuận vốn là yếu tố quan trọng nhất, thì các chiến lược xây dựng và duy trì các liên minh đảng phái trở nên khó nắm bắt và thực hiện hơn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s