2.2/ Các chức năng cơ bản

Ngân hàng thanh toán quốc tế có 4 chức năng chính.

Ngân hàng Toán quốc tế giữ vai trò là Ngân hàng đối với ngân hàng trung ương các nước, trong đó 80 nước gửi khoảng 10% dự trữ tiền tệ tại các quỹ của Ngân hàng Thanh toán quốc tế. Ngân hàng Thanh toán quốc tế cung cấp cho ngân hàng trung ương các nước các khoản vay tài chính. Chức năng này được phát triển từ năm 1982 với cuộc khủng hoảng vay nợ quốc tế. Trong giai đoạn đó, Ngân hàng Thanh toán quốc tế đã cung cấp các khoản tín dụng cấp thiết cho một số ngân hàng trung ương các nước châu Mỹ Latinh. Trong trường hợp cấp phát thêm các tín dụng song phương cho các chương trình cho vay của các thiết chế tài chính thế giới (Brazil năm 1998), Ngân hàng Thanh toán quốc tế chỉ can thiệp với tư cách là trung gian cho các chính phủ và yêu cầu các chính phủ phải chịu trách nhiệm về rủi ro tín dụng. Ngoài ra, vì những lý do lịch sử, Ngân hàng Thanh toán quốc tế vẫn giữ vai trò tích cực trên thị trường vàng.

Ngân hàng Thanh toán quốc tế cũng còn là nơi tổ chức hợp tác tiền tệ cấp thống đốc ngân hàng trung ương các nước công nghiệp phát triển (bao gồm một vài thành viên của Liên minh châu Âu và của nhóm G10, ở đây Ngân hàng đảm nhiệm vai trò thư ký).

Vào đầu những năm 1970, vai trò chủ yếu của Ngân hàng Thanh toán quốc tế trong lĩnh vực này hướng vào việc thành lập các ủy ban giám sát và kiểm tra tài chính thế giới. Ủy ban Basel chuyên trách về kiểm tra nghiệp vụ ngân hàng có nhiệm vụ tập hợp các thông tin về hệ thống pháp chế của các hệ thống ngân hàng khác nhau, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp đảm bảo khả năng chi trả và khả năng thanh khoản của các ngân hàng. Ủy ban này có tính chất tư vấn: các giải pháp do ủy ban đưa ra được tham khảo và đưa vào luật lệ quốc gia. Ủy ban này đã thông qua “Thỏa ước Basel” năm 1988, sau đó được sửa đổi và hoàn chỉnh vào năm 1999, quy định tỷ lệ sản thấp nhất là 8% của vốn thực có trên cam kết quốc tế (còn gọi là tỷ lệ Cooke) được các nước nhóm G10 cam kết tuân thủ. Hiện nay đang tiến hành sửa đổi và bổ sung Thỏa ước 1988 (Basel 2) [đến 2015 đã nâng cấp lên đến Basel 3 – SCDRC] nhằm soạn thảo ra các chuẩn mực và kiểm tra tinh vi hơn và nhạy cảm hơn với các loại rủi ro tài chính và đề ra các trình tự giám sát nghiệp vụ ngân hàng.

Trên cơ sở báo cáo Tietmeyer (1999), G7 đã thành lập Diễn đàn ổn định tài chính (FSF) năm 1999 hội tụ các chính phủ, thiết chế tài chính và các cơ quan điều chỉnh (IMF và BIS). Diễn đàn này góp phần giải quyết các khiếm khuyết về mặt kỹ thuật của IMF trong lĩnh vực tiêu chuẩn hóa tài chính, đã đề ra một tập hợp các chuẩn ưu tiên. Với chức năng nêu trên, BIS đảm nhận vai trò thư ký của Diễn đàn.

Với tư cách là tác nhân và người được ủy quyền trong quá trình thực hiện các thanh toán quốc tế, Ngân hàng Thanh toán quốc tế, cho đến tận lúc thành lập Viện Tiền tệ châu Âu, sau đó là Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), đã đảm nhận vai trò bù trừ và thanh toán đồng euro giữa ngân hàng trung ương các nước châu Âu và các ngân hàng thương mại tư nhân.

Cuối cùng, cũng như IFM và WB, Ngân hàng Thanh toán quốc tế là một trung tâm nghiên cứu và thông tin đưa ra các bản báo cáo hàng năm đề cập đến quá trình biến đổi của các dự liệu tiền tệ, kinh tế và thương mại quốc tế, đưa ra thống kê về các hoạt động ngân hàng trên thế giới, thị trường ngoại hối, tín dụng (đặc biệt là các rủi ro trên các thị trường mới nổi) và kể từ năm 1982, kết hợp với OECD giải quyết về vấn đề nợ nước ngoài.

2.3/ Kiến nghị cải cách

Việc IMF sử dụng các phương thức can thiệp mới cũng như việc huy động các nguồn vốn lớn trong quá trình xử lý các cuộc khủng hoảng tài chính cho thấy nổi lên khả năng hình thành mô hình người cho vay cuối cùng trên quy mô quốc tế. Tuy nhiên IMF không có đủ các phương tiện giám sát, có cơ chế ra quyết định và các chế tài của các ngân hàng trung ương cho phép huy động một cách không hạn chế và tùy ý các nguồn tài chính trong trường hợp khả năng thanh khoản bị khủng hoảng (Agiletta và Moatti, 2000). Vì vậy, có kiến nghị nên trao cho BIS một vai trò trong việc điều phối hệ thống các ngân hàng trung ương cùng nhau đảm nhận chức năng của cơ quan cho vay cuối cùng (Boissieu và Aglietta, 1999).

3/ Ngân hàng thế giới

3.1/ Quá trình biến đổi các mục tiêu của Nhóm Ngân hàng thế giới

Hoạt động của Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế IBRD hay Ngân hàng Thế giới được bắt đầu từ năm 1946 có mục tiêu là tái thiết các nước bị tàn phá trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Sau đó, từ năm 1948 nhiệm vụ này được thực hiện thông qua Kế hoạch Marshall do Mỹ tài trợ. Ngân hàng Thế giới chuyên về trợ giúp phát triển.

Ngân hàng Thế giới vay tiền từ các thị trường tài chính cho phần chủ yếu của các quỹ vốn Ngân hàng với tỷ lệ lãi suất rất thấp dựa vào tư cách nguồn vay nợ rất an toàn được vốn của các thành viên bảo đảm. Ngân hàng Thế giới cho vay tiền với các điều kiện thuận lợi hơn so với các điều kiện cho vay của thị trường. Ngân hàng này cho các nước thu nhập trung bình khoảng từ 1505 đến 5445 USD/người/ năm vay tiền hoặc các tổ chức được các nước này đảm bảo, với điều kiện là các nước này không thể tiếp cận được với các nguồn vốn với các điều kiện hợp lý.

Trong những năm 1950, các điều kiện cho vay tiền của Ngân hàng Thế giới luôn tỏ ra là quá khó khăn đối với các nước nghèo, đến nỗi mà Hiệp hội Phát triển quốc tế (IDA) với tư cách là một quỹ độc lập đã được thành lập nhằm cho các nước này vay vốn với điều kiện dễ dàng hơn. Nhóm Ngân hàng Thế giới có 3 thiết chế trực thuộc đó là Công ty Tài chính quốc tế (IFC), Trung tâm quốc tế giải quyết các tranh chấp liên quan đến đầu tư (ICSID) và Cơ quan bảo lãnh đầu tư đa phương (MIGA). Các cơ quan này có nhiệm vụ thúc đẩy đầu tư tư nhân tại các nước đang phát triển.

Trong những năm 1950 và 1960, Ngân hàng Thế giới chú trọng cho vay đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Sau đó, các khoản vay dành cho lĩnh vực sản xuất có phần tăng lên trong các cam kết trong những năm 1970.

Sau khi bắt đầu khủng hoảng vay nợ tại các nước đang phát triển (năm 1982), Ngân hàng Thế giới cung cấp ngày càng nhiều các khoản cho vay nhưng không phải dành cho các dự án kinh tế vi mô như trước nữa, mà để hỗ trợ các chương trình cải cách cơ cấu kinh tế dài hạn có điều kiện (làm chủ các chi tiêu công, tự do hóa thương mại, tư nhân hóa). Như vậy, Ngân hàng Thế giới đã xích lại gần với IMF và cùng với thiết chế này chia sẻ nhiệm vụ.

Các khoản Cho vay phục vụ cải cách cơ cấu – SAL (chiếm 15% các khoản cho vay năm 1987) liên tục tăng (hiện nay chiếm 30%), làm giảm phần đầu tư vào lĩnh vực sản xuất. Các khoản đầu tư này ngày càng được tài trợ trong khuôn khổ phối hợp với các nhà đầu tư công hoặc tư khác. Đa phần các khoản tín dụng cơ cấu được đầu tư vào các lĩnh vực nhạy cảm (như bảo hộ xã hội và môi trường).

Tính tổng cộng, Ngân hàng Thế giới (IBRD và IDA) đã cho vay 22 tỷ USD năm 1999, một con số không nhỏ so với tổng lưu chuyển tài chính về các nước đang phát triển (230 tỷ USD) và vốn ODA (50 tỷ USD).

Mới đây, Ngân hàng Thế giới buộc phải xem xét chủ trương về cho vay có điều kiện vì hai lý do. Thứ nhất, các cuộc cải cách cơ cấu kinh tế có những hiệu ứng rất trái ngược nhau và các cuộc khủng hoảng tài chính cuối những năm 1990 buộc thiết chế tài chính này phải quan tâm hơn nữa đến tác động của cải cách đến những tầng lớp dân cư dễ bị tổn thương nhất. Thứ hai, có rất nhiều trùng hợp giữa các điều kiện và chính sách cải cách cơ cấu kinh tế do Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ quốc tế đưa ra khuyến khích hai thiết chế này phối phợp tích cực hơn nữa với nhau, đây là hai lý do khiến Ngân hàng Thế giới xác định lại các ưu tiên của mình.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Thomas Boisson – Phân tích toàn cảnh các thiết chế quản trị toàn cầu – NXB CTQG 2003.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s