Các vấn đề kinh tế. Mặc dù về căn bản người Mỹ tin vào chủ nghĩa tư bản, song hầu như không mấy ai tin rằng các doanh nghiệp tư nhân cần được thả nổi điều tiết hoàn toàn hoặc tin rằng những thứ mà mọi người cho là có giá trị cần phải được phân bổ duy nhất bởi một thị trường tự do không có điều tiết. Thường xuyên có xung đột chính trị liên quan đến việc chính phủ nên đi bao xa trong việc điều tiết kinh doanh và giải quyết những bất bình đẳng về kinh tế và xã hội do thị trường chi phối. Trong lịch sử, xu hướng này luôn hướng tới một vai trò chính quyền ngày càng lớn hơn trong việc quản lý các vấn đề kinh tế, với những đợt mở rộng nổi bật vào thập niên 1930 theo Chính sách mới của Franklin Roosevelt và vào thập niên 1970 với các đạo luật mới để bảo vệ người tiêu dùng và môi trường. Ngày nay, hành động của chính quyền nhằm nâng cao phúc lợi kinh tế thường nhận được sự ủng hộ rộng rãi của dân chúng. Đồng thời, mọi người cũng không còn mấy nhiệt tình với việc chi trả chi phí của “chính quyền phình to” dưới hình thức mức thuế cao hơn và chế độ điều tiết quan liêu lớn hơn. Những chương trình phục vụ cho lợi ích của tầng lớp trung lưu, thường thu hút được sự ủng hộ lớn nhất; những chương trình phục vụ cho người nghèo thì có thế đứng chính trị không vững chắc bằng.

Cụ thể hơn, các đa số lớn thường ủng hộ việc chi tiêu ổn định của chính quyền và tăng cường cho những chương trình phục vụ cho (hoặc cuối cùng sẽ phục vụ cho) gần như tất cả mọi người: An sinh xã hội (tiền hưu trí dành cho người khuyết tật và người về hưu), Medicare (chăm sóc y tế cho người về hưu), và bảo hiểm thất nghiệp (trợ cấp cho những người bị mất việc). An sinh xã hội cũng phổ biến đến mức các chính trị gia thường gọi nó là “đường ray thứ ba của nền chính trị Mỹ – chạm vào nó, và bạn sẽ chết” (ý nói đến đường ray cao thế để các tàu điện ngầm nạp điện hoạt động). Chiến dịch vận động năm 2005 của George W. Bush nhằm giành sự ủng hộ của dân chúng cho việc cải các chương trình này đã ngầm thừa nhận mối hiểm họa; tổng thống đã dành nhiều tháng đi khắp đất nước để nói với các bộ phận công chúng rằng An sinh xã hội cần phải có một đợi đại tu mới có thể tiếp tục lành mạnh về mặt tài chính mà không nhấn mạnh rằng, khi không có những cuộc tăng thuế mà Bush bác bỏ, đợt đại tu này sẽ phải bao gồm việc cắt giảm lớn những khoản trợ cấp đã hứa thực hiện trong tương lai. Các chương trình cá biệt khác của chính quyền được thiết kế nhằm cải thiện việc chăm sóc y tế và phúc lợi cũng nhận được sự ủng hộ rộng rãi – với một số ngoại lệ rõ ràng (xem hộp “Công luận và cải cách phúc lợi”, trong đó có liệt kê một số kết quả thăm dò điển hình và minh họa cách mà những quan điểm như vậy có thể ảnh hưởng đến những quyết sách lớn).

Công luận và cải cách phúc lợi

Dân chúng thường dành sự ủng hộ rộng rãi cho các chương trình chi tiêu xã hội lớn – ngoại trừ những chương trình mang lại những không không thích hợp. Hãy xem xét câu trả lời  của người dân cho câu hỏi sau: “Việc chi tiêu cho các chương trình sau nên tăng, giảm hay giữ nguyên?”

  Tăng Giữ nguyên Giảm
An sinh xã hội (2000) 63% 32% 4%
Nâng cao và bảo vệ sức khỏe (1993) 74 18 8
Các trường công (2000) 76 18 5
Phúc lợi (2000) 17 44 40
Trợ giúp cho người nghèo (2000) 52 39 9
Tem phiếu thực phẩm 16 51 33
Giải quyết vấn đề vô gia cư (1996) 58 31 11
Trợ giúp cho các sinh viên đại học (1996) 53 38 9
Nghiên cứu AIDS 92002) 51 39 8

Chỉ có một đa số rất nhỏ muốn chính quyền chi tiêu ít hơn cho An sinh xã hội, y tế, các trường công, các khoản vay cho sinh viên đại học, người vô gia cư và nghiên cứu AIDS so với mức hiện tại. Tuy nhiên, những chương trình mà tên của chúng đưa ra những biểu tượng sai lầm thường nhận được mức độ ủng hộ thấp hơn. Ví dụ, ở đây 40% cho rằng nên giảm chi tiêu cho “phúc lợi” và chỉ có 17% cho rằng nên tăng khoản này, mặc dù 52% cho rằng nên tăng chi tiêu cho việc “trợ giúp người nghèo” – mà không xét đến thực tế rằng phúc lợi chính là trợ giúp cho người nghèo. Đây là một ví dụ rõ ràng về việc tạo khung. Phần lớn người Mỹ cho rằng chín quyền nên giúp đỡ người nghèo, nhưng từ phúc lợi lại làm gợi lên hình ảnh, mặc dù không thỏa đáng, về những người lười biếng sống nhờ mồ hôi lao động của những người đóng thuế. Làm từ thiện là một điều tốt đẹp, nhưng tự lực cũng vậy, và các vấn đề nghèo đói có thể được lập khung theo một trong hai điều trên.

Các hình ảnh và khung cũng có ảnh hưởng. Năm 1996, Quốc hội do Đảng Cộng hòa kiểm soát đã gửi cho Bill Clinton một dự luật cải cách phúc lợi trong đó yêu cầu cắt giảm mức trợ giúp liên bang dành cho người nghèo. Ngoài những yêu cầu khác, dự luật này còn áp đặt một giới hạn thời gian cho việc xác định tư cách hưởng phúc lợi lần đầu tiên kể từ khi thực hiện chương trình này vào thập niên 1930. Nó cũng loại bỏ chương trình tem phiếu thực phẩm, chương trình mà rõ ràng cũng có chung những ý nghĩa tiêu cực như chương trình phúc lợi (xem mục tem phiếu thực phẩm trong bảng). Phần lớn những người Dân chủ trong Quốc hội chống lại dự luật này, hưng, trước đợt tái tranh cử đang đến gầ, Clinton cũng đã ký vào dự luật bởi vì nó nhận được sự ủng hộ rộng rãi của một bộ phận công chúng vốn đã hoan nghênh lời hứa trong chiến dịch vận động lần trước của ông về việc “chấm dứt phúc lợi theo đúng cách chúng ta hiểu nó”.

Nói chung, người Mỹ dường như ủng hộ một phạm vi rộng lớn các chính sách phúc lợi kinh tế và xã hội vốn thường được phân loại là tự do. Nhưng khi liên quan đến các nguyên tắc, chứ không phải là liên quan đến các chương trình, người Mỹ có nhiều khả năng coi bản thân là bảo thủ hơn. Các đa số cũng nhất trí với những chính trị gia bảo thủ khi họ nói rằng mức thuế quá cao, rằng chính quyền lãng phí rất nhiều tiền bạc, rằng các công chức quá phiền nhiễu, và mọi người cần tự lo cho bản thân hơn là nhờ vào bàn tay chính quyền.

Các vấn đề xã hội và đạo đức. Chính trị liên quan đến việc phân phối hàng hóa, mà hàng hóa thì có thể vừa mang tính đạo đức lại vừa mang tính vật chất. Những cuộc đấu tranh lớn nhằm xóa bỏ chế độ nô lệ, giành quyền bầu cử cho phụ nữ, cấm rượu cồn, và chấm dứt phân biệt chủng tộc chủ yếu được chi phối bởi những suy xét đạo đức hơn là kinh tế. Các vấn đề xã hội và đạo đức ngày nay gây ra một số những cuộc tranh cãi chính trị nóng bỏng nhất. Những vấn đề nạo phá thai, thiểu số về chủng tộc và dân tộc, người nhập cư và người đồng tính cấu thành một phần quan trọng trong chương trình nghị sự chính trị. Các vấn đề này làm nảy sinh những suy xét xung đột nhau, rất khó hòa giải, không chỉ giữa các nhóm đối lập nhau mà còn đối với những cá nhân trong suy nghĩ của mình.

Trong thời đại hiện nay, vấn đề nạo phá thai là ví dụ rõ ràng nhất. Kể từ khi Tòa án tối cao đưa ra phán quyết Roe kiện Wade năm 1973, từ đó đảo ngược các đạo luật coi nạo phá thai là bất hợp pháp, vấn đề nạo phá thai đã trở thành một chủ đề quan trọng đối với cả một thế hệ chính trị. Các nhóm có những lập trường đối lập nhau mạnh mẽ đã chi phối cuộc tranh luận công. Tại một thái cực là những người muốn luật pháp cấm nạo phá thai với lý do đây là tội giết người; tại thái cực kia là những người muốn chống lại bất kỳ biện pháp kiềm chế nào đối với quyền nạo phá thai của phụ nữ. Không một lập trường nào trong số những lập trường này này có được đa số, mặc dù số người ủng hộ việc không nền kiềm chế đông hơn (40% vào năm 2000) so với số người ủng hộ cấm hoàn toàn (11%). Đối với hầu hết mọi người, câu trả lời là “Còn tùy”.

Công luận tổng thể về vấn đề nạo phá thai vừa có độ nhất quán cao lại vừa vô cùng nhạy cảm với cách tạo khung vấn đề. Hình 10 – 9 cho thấy những xu hướng trong câu trả lời đối với một tập hợp những câu hỏi được đặt ra hầu như hàng năm trong những cuộc thăm dò kể từ năm 1965. Sau một đợt gia tăng ban đầu trong sự ủng hộ của công chúng đối với việc nạo phá thai được đưa vào luật (trùng lặp với phán quyết Roe kiện Wade), công luận tổng thể hầu như không mấy thay đổi. Các đa số lớn cho rằng việc nạo phá thai cần được coi là hợp pháp nếu như việc mang thai là do kết quả của hành động cưỡng hiếp hay gây nguy hiểm cho sức khỏe người phụ nữ hay nếu như có một khả năng khuyết tật sinh đẻ nghiêm trọng. Công chúng có mức độ chia rẽ ngang bằng nhau về việc liệu nạo phá thai vì lý do tài chính hay lý do gia đình. Những cách dùng từ khác cho câu hỏi tạo ra một mức độ phổ biến tương tự.

 

Hình 10 – 9

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s