Ngày 30/11/2015, Hội đồng quản trị Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã hoàn thành việc xem xét theo thông lệ 5 năm một lần đối với giỏ tiền tệ Quyền rút vốn đặc biệt (SDR). Kết quả là, Trung Quốc đã đạt tiêu chuẩn về phương diện “quy mô xuất khẩu” và “đồng tiền có thể tự do sử dụng”, đồng NDT chính thức gia nhập SDR vào ngày 1/10/2016, khi đó tỷ trọng các đồng tiền trong giỏ tiền tệ SDR sẽ được điều chỉnh từ đồng USD (41,9%), euro (37,4%), NDT (10, 92%), Yen Nhật (8,33%) và bảng Anh (8,09%). Về vấn đề này, Tổng Giám đốc IMF Christine Lagarde cho biết: “Quyết định của Hội đồng quản trị về việc đưa đồng NDT gia nhập SDR là một dấu mốc quan trọng đưa nền kinh tế Trung Quốc hội nhập hệ thống tài chính quốc tế. Quyết định này cũng là sự thừa nhận đối với những thành tựu trong cải cách hệ thống tài chính và tiền tệ của Chính phủ Trung Quốc những năm vừa qua. Những nỗ lực liên tục này sẽ mang lại một hệ thống tài chính và tiền tệ giàu sức sống hơn, ngược lại hệ thống tài chính và tiền tệ quốc tế sẽ nâng đỡ sự tăng trưởng và ổn định của nền kinh tế Trung Quốc và toàn cầu”. Mọi người bất giác sẽ hỏi: Tình hình quốc tế hiện nay đã có những thay đổi gì, và việc đồng NDT gia nhập SDR liệu đã được cộng đồng quốc tế coi là vấn đề cần tập trung xem xét? Ngoài bối cảnh lớn của quốc tế, việc Trung Quốc đẩy mạnh đồng NDT gia nhập SDR là có toan tính gì? Đồng NDT gia nhập SDR sẽ có tác động ra sao tới hướng đi của hệ thống tiền tệ quốc tế trong tương lai? Bài viết sẽ tiến hành phân tích và lý giải những vấn đề này.

I/ Vai trò thúc đẩy từ sự trỗi dậy của các nước lớn mới nổi đối với việc đồng NDT gia nhập SDR

Bước sang thế kỷ 21, các nước lớn mới nổi do BRICS (Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi) làm đại diện đã trỗi dậy theo nhóm. Trong số các nước lớn mới nổi này, ngoài Nam Phi thuộc BRICS, thì đều có diện tích lãnh thổ, dân số, quy mô thị trường tương đối lớn cũng như tương đối đầy đủ các chủng loại tài nguyên, đều tha thiết mong muốn cải cách mở cửa nền kinh tế và chấn hưng đất nước, đều có xu thế tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và liên tục, đều là các lực lượng mới nổi lên trong nền kinh tế toàn cầu, đóng vai trò chính trong sự ổn định chính trị và an ninh của khu vực và là các bên tham gia quan trọng trong các vấn đề của thế giới. Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 tới nay, mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước BRICS chậm lại, nhưng vẫn ngày càng trở thành một lực lượng quan trọng trong trật tự kinh tế và tài chính quốc tế. Tính đến năm 2015, danh sách xếp hạng của các nước BRICS trong GDP của thế giới là: Trung Quốc đứng thứ 2, Ấn Độ đứng thứ 7, Brazil đứng thứ 9, Nga đứng thứ 12, Nam Phi đứng thứ 33, GDP của 5 nước gộp lại chiếm 1/5 GDP toàn cầu (22,53%). Điều quan trọng hơn là mức độ tham gia và địa vị quyền lực của các nước BRICS trong quản lý kinh tế – tài chính thế giới đã được nâng lên rõ rệt. Trước hết, các nước BRICS tích cực tham gia quản lý kinh tế – tài chính toàn cầu. Một mặt, với tư cách là thành viên của Nhóm các nước có nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20), các nước BRICS đã tích cực thúc đẩy cơ chế quản lý kinh tế – tài chính toàn cầu chuyển từ Nhóm 7 quốc gia công nghiệp hàng đầu (G7) sang G20, cùng xây dựng cơ chế quản lý giữa các quốc gia mới nổi, đặc biệt là giữa các nước lớn mới nổi với các nước lớn phương Tây, đảm bảo về mặt cơ chế để kiềm chế sự độc quyền của các nước phương Tây, đặc biệt là Mỹ trong việc quản lý kinh tế – tài chính quốc tế. Mặt khác, tích cực tìm kiếm nâng cao quyền phát ngôn trong các tổ chức kinh tế – tài chính quốc tế chủ yếu. Cho đến nay, ngoài quyền bỏ phiếu của Nam Phi trong IMF giảm từ 0,77% trước đây xuống 0,64%, các nước BRICS còn lại đều tăng lên, trong đó, Trung Quốc tăng từ 3,8% lên 6,14%, Ấn Độ từ 2,33% lên 2,66%, Nga từ 2,38% lên 2,61%, Brazil từ 1,71% lên 2,24%. Trong cơ cấu quyết sách quan trọng của Ngân hàng thế giới – Ngân hàng quốc tế tái thiết và phát triển (IBRD), so với tình hình trước khi phương án cải cách quyền bỏ phiếu được thông qua ngày 24/4/2010, cho đến nay, ngoài Brazil giảm từ 2,06% xuống 1,85%, Nam Phi từ 0,84% xuống 0,78%, 3 nước BRICS còn lại đều tăng lên, trong đó, Trung Quốc tăng từ 2,77% lên 4,65%, Ấn Độ từ 2,77% lên 3,06% và Nga từ 2,77% lên 2,91%. Thứ hai, các nước BRICS đã thiết lập và củng cố các cơ chế hợp tác tài chính trong khu vực. Một mặt, tăng cường sự hợp tác tiền tệ và thúc đẩy thanh toán thương mại bằng đồng tiền của mình trong khu vực. Trước hết là Hội nghị thượng đỉnh BRIC lần đầu tiên ở Brasilia tuyên bố “tiến hành nghiên cứu đối với cơ chế tiền tệ có liên quan trong khu vực, đồng thời thảo luận về phương thức 4 nước có thể triển khai hợp tác… Nghiên cứu tính khả thi của việc hợp tác tiền tệ, bao gồm 4 nước thanh toán thương mại bằng đồng tiền nội khối”. Sau đó tại Hội nghị thượng đỉnh BRICS lần thứ ba ở Tam Á (Trung Quốc), các nước đã ký Hiệp định khung hợp tác tiền tệ, từng bước mở rộng quy mô nghiệp vụ thanh toán và cho vay bằng đồng tiền nội khối, hợp tác phát hành trái phiếu, đẩy mạnh việc các nước thành viên trao đổi thông tin về phương diện kinh tế – tài chính. Mặt khác, thành lập Ngân hàng phát triển mới của nhóm BRICS và Quỹ dự phòng khẩn cấp. “Tuyên ngôn Fortaleza” năm 2014 đã xác lập hiệp định khung cho việc thành lập Ngân hàng phát triển BRICS và sắp xếp Quỹ dự phòng khẩn cấp. Vốn pháp định của Ngân hàng phát triển BRICS là 100 tỷ USD, số vốn đăng ký ban đầu là 50 tỷ USD, chia đều cho 5 nước thành viên sáng lập nhằm gây quỹ cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, các dự án phát triển bền vững của các nước BRICS cũng như các thị trường mới nổi và các nước đang phát triển khác. Quỹ dự phòng khẩn cấp có quy mô vốn là 100 tỷ USD, trong đó Trung Quốc góp 41 tỷ USD, Nga, Brazil, Ấn Độ góp 18 tỷ USD, Nam Phi góp 5 tỷ USD. Cơ chế này nhằm trợ giúp các quốc gia đang phát triển tránh sức ép thanh khoản ngắn hạn, thúc đẩy sự hợp tác hơn nữa trong khối BRICS, tăng cường mạng lưới an toàn tài chính toàn cầu và bổ trợ cho các thỏa thuận quốc tế hiện thời. Một sự tương phản lớn với điều này là, các nước lớn mới nổi vẫn chưa có được vị thế tương ứng trong hệ thống tiền tệ quốc tế do đồng USD giữ vai trò chủ đạo. Thứ nhất, đồng tiền của các nước lớn mới nổi kông phải là đồng tiền dự trữ ngoại hối quan trọng. Cho tới quý 4 năm 2015, trong dự trữ ngoại hối đã được phân phối của IMF, đồng USD chiếm tỷ lệ 64,06%, euro 19,91%, bảng Anh 4,88%, Yên Nhật 4,08%, đôla Australia 1,90%, đôla Canada 1,88%, franc Thụy Sĩ 0,31%, các đồng tiền khác trong đó có đồng tiền của các nước lớn mới nổi chỉ chiếm 2,99%. Thứ hai, đồng tiền của các nước lớn mới nổi không phải là đồng tiền giao dịch chủ yếu trên thị trường ngoại hối toàn cầu. Cho đến tháng 4/2013, trong giao dịch ngoại hối trên thị trường tự do toàn cầu, đồng USD chiếm 87%, euro 33,4%, Yen Nhật 23%, bảng Anh 11,8%, đôla Australia 8,6%, franc Thụy Sĩ 5,2%, đôla Canada 4,5%. So sánh tỷ lệ của đồng tiền các nước lớn mới nổi là: đồng NDT 2,2%, rub của Nga 1,6%, rand của Nam Phi 1,1%, real của Brazil 1,1%, rupee của Ấn Độ 1%. Hơn nữa, đồng tiền của các nước lớn mới nổi không phải là tài sản chính quốc tế chủ yếu. Đến tháng 9/2015, tài sản của 4 đồng tiền (đồng USD, euro, Yen Nhật và bảng Anh) có thể tự do sử dụng ở tất cả các bộ ngành lên tới 88,8%, trong đó, đồng USD 48%, euro 30,3%, Yen Nhật 5,2%, bảng Anh 5,3%; tỷ lệ nợ lên tới 89,9%, trong đó USD 52,3%, euro 28,8%, Yen Nhật 2,9%, bảng Anh 5,9%. Cuối cùng, đồng tiền của các nước lớn mới nổi không phải là đồng tiền nằm trong giỏ tiền tệ SDR và đồng tiền định giá. Từ năm 1969 – 1980, SDR từng được tạo thành và định giá bởi 16 đồng tiền của các nước phát triển và các nước đang phát triển, đã thể hiện tính đại diện và tính công bằng ở một mức độ nhất định, nhưng từ ngày 1/1/1981 chỉ có 5 đồng tiền chính là đồng USD, euro, Yen Nhật, bảng Anh và mark Đức, sau năm 1999 chỉ còn 4 đồng tiền chính là USD, euro, Yen Nhật và bảng Anh. Cục diện như vậy có tính không công bằng rõ rệt, cũng không thể hiện được thực tế nước này tăng nước kia giảm giữa các nước lớn mới nổi với các nước đang phát triển. Xét về tổng lượng kinh tế và xu thế nổi lên của các đồng tiền, trong tiến trình các nước lớn mới nổi mà đại diện là nhóm BRICS thay đổi trật tự tài chính – tiền tệ quốc tế. Trung Quốc rõ ràng là chủ thể quan trọng. Về mặt tổng lượng kinh tế, Trung Quốc rõ ràng là chủ thể quan trọng. Về mặt tổng lượng kinh tế, sau khi vượt qua Đức vào năm 2007, Trung Quốc lại vượt qua Nhật Bản vào năm 2010, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới chỉ sau Mỹ. Về chỉ tiêu cụ thể, đến năm 2015, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc đứng đầu thế giới, tổng kim ngạch nhập khẩu đứng thứ 2 thế giới, trở thành nước lớn buôn bán hàng hóa và đứng ngang hàng với Mỹ trong nhiều năm liên tục.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Quan hệ quốc tế hiện đại (TQ)

TLTKĐB – 07 – 08/10/2016

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s