Từ xu thế nổi lên của các đồng tiền cho thấy NDT là đồng tiền của nước lớn mới nổi trong các đồng tiền quốc tế có tiềm lực nhất. Thứ nhất, tài sản định giá bằng đồng NDT mà chính phủ các nước nắm giữa có xu thế tăng lên. Đến năm 2014, trong 130 quốc gia được phỏng vấn, có 38 quốc gia nắm giữ tài sản đồng NDT với tổng số tiền là 51 tỷ USD, chiếm tỷ lệ 1,1%, có phần tăng lên so với 0,7% là 29 tỷ USD của 27 nước hồi năm 2013. Thứ hai, nợ của ngành ngân hàng quốc tế định giá bằng đồng NDT tăng lên rõ rệt. Đến tháng 6/2015, số nợ được định giá bằng đồng NDT là 479 tỷ USD, chiếm tỷ lệ 1,8%, nếu tính cả Hong Kong, Macao và Đài Loan, nợ của ngành ngân hàng quốc tế tính là 1139 tỷ USD. Hơn nữa, chứng khoán nợ quốc tế định giá bằng đồng NDT có tốc độ tăng rõ rệt. Tính đến tháng 6/2015, số tiền phát hành chứng khoán nợ quốc tế định giá bằng đồng NDT là 28 tỷ USD, chiếm tỉ lệ 1%, đứng thứ 6, nợ chưa thanh toán là 76 tỷ USD, chiếm tỷ lệ 0,4%, đứng thứ 9, có tiến bộ rõ rệt so với tháng 6/2010. Thứ ba, việc sử dụng đồng NDT trong thanh toán xuyên biên giới và tài trợ thương mại mở rộng nhanh. So với giai đoạn tháng 12/2010 – 9/2011, từ tháng 9/2014 – 6/2015, tỉ lệ đồng NDT trong thanh toán xuyên biên giới và tài trợ thương mại trên toàn cầu lần lượt là 1,1% và 3,4%, tăng 1 điểm phần trăm và 2,3 điểm phần trăm. Cuối cùng, tỉ lệ đồng NDT trong giao dịch trên thị trường ngoại hối toàn cầu tăng nhanh, từ 0% năm 2001 lên 0,1% năm 2004, 0,5% năm 2007, 0,9% năm 2010 rồi tới 2,2% năm 2013, giao dịch đồng NDT trên thị trường ngoại hối toàn cầu từ không tới có, từ tăng trưởng với tốc độ thấp lên tăng trưởng với tốc độ nhanh, mặc dù không bằng đồng USD, euro, Yen Nhật và bảng Anh nhưng đã vượt qua các đồng tiền châu Á như đôla Hong Kong, đôla Singapore và đồng Won, cũng dẫn trước các đồng tiền của các nước BRICS khác. Đứng trước cơ hội lớn tiềm ẩn từ sự trỗi dậy của nền kinh tế và đồng NDT, các nước có đồng tiền trong giỏ tiền tệ SDR đã có sự phân hóa. Tháng 3/2015, tiếp sau việc 4 nước Anh, Pháp, Đức, Italy lần lượt tuyên bố có ý định trở thành thành viên sáng lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) do Trung Quốc khởi xướng, các quốc gia chủ chốt ở châu Âu lại bày tỏ thái độ tích cực ủng hộ đối với việc đồng NDT gia nhập SDR. Ví dụ, ngày 17/3/2015, trong cuộc đối thoại tài chính cấp cao Trung – Đức lần thứ nhất, phía Đức bày tỏ ủng hộ mục tiêu của phía Trung Quốc về việc đồng NDT gia nhập SDR theo tiêu chuẩn hiện hành của IMF. Ngày 20/3, Tổng Giám đốc IMF Christine Lagard từng giữ chức Bộ trưởng Tài chính Pháp cho biết đồng NDT gia nhập SDR “không phải vấn đề có gia nhập hay không mà chỉ là vấn đề thời gian”. Ngày 25/3, cố vấn kinh tế hàng đầu của Bộ Tài chính Anh David Ramsden cho biết so với khi đánh giá sự cấu thành của SDR hồi năm 2010, tình hình thế giới đã có nhiều thay đổi, việc đưa NDT vào giỏ tiền tệ của IMF là một “vấn đề rất thực tế” mà cơ cấu đa phương này cần phải xem xét thận trọng. Ngày 18/9, khi tham dự đối thoại kinh tế, tài chính cấp cao Trung – Pháp lần thứ 3, Bộ trưởng Tài chính Pháp Michel Sapin cho biết trong điều kiện đồng NDT đáp ứng các tiêu chuẩn hiện có, Pháp ủng hộ đưa NDT gia nhập SDR trong khi xem xét về giỏ tiền tệ SDR của IMF. Từ sự điều chỉnh tỉ trọng các đồng tiền trong SDR sau đó cho thấy USD giảm ít nhất (0,17%), Yen Nhật (1,07%), euro và bảng Anh giảm lớn nhất, trong đó đồng euro (6,47%), bảng Anh (3,21%). Từ đó cho thấy rõ lập trường ủng hộ đồng NDT gia nhập SDR của các nước châu Âu.

II/ Đòi hỏi lợi ích của Trung Quốc đằng sau việc đồng NDT gia nhập SDR

Theo một số nhà quan sát nước ngoài, lợi ích khi đồng NDT gia nhập SDR đem lại cho Trung Quốc chỉ là thỏa mãn về tâm lý chứ không có ý nghĩa thực tế. Chẳng hạn, nhà tư vấn tài chính Joshua Zoffer, cho rằng tầm quan trọng của việc đưa vào SDR đối với đồng NDT là vấn đề tâm lý, đồng thời dự báo các tổ chức kinh tế của phương Tây đánh giá cao nỗ lực tự do hóa của Trung Quốc về mặt cơ chế tỷ giá hối đoái và kiểm soát dòng tiền, đồng thời hoan nghênh Trung Quốc gia nhập hệ thóng này với tư cách là bên tham gia chủ yếu. Giáo sư Đại học Hitotsubashi (Nhật Bản) Masahiko Takeda nhấn mạnh, khác với việc gia tăng quyền bỏ phiếu của Trung Quốc ở IMF, đồng NDT tham gia vào SDR không thể đem lại đặc quyền và lợi ích thực tế cho Trung Quốc, chỉ là tăng thêm sự tiến triển mang tính biểu tượng của Trung Quốc về địa vị tài chính quốc tế do nỗ lực của mình. Đánh giá này không chỉ coi nhẹ vai trò của xu thế biến động lớn của cục diện thế giới, mà còn chưa nhận thức được yêu cầu lợi ích chính đáng của Trung Quốc trong sự phát triển hòa bình thế giới. Trước hết, đồng NDT gia nhập SDR đã phản ánh yêu cầu từ sự phát triển của Trung Quốc đối với cải cách hợp lý hệ thống tiền tệ quốc tế. Thống đốc Ngân hàng Trung Quốc Chu Tiểu Xuyên từng kêu gọi, là đồng tiền dự trữ, tiền tệ tín dụng chủ quyền sẽ làm tăng thêm khiếm khuyết nội tại và rủi ro mang tính hệ thống đồng tiền quốc tế, phương án lý tưởng là tạo ra một đồng tiền dự trữ quốc tế tách rời nhà nước chủ quyền và có thể duy trì ổn định giá trị đồng tiền trogn thời gian dài, đồng tiền lý tưởng này không thuộc SDR. Hệ thống tiền tệ quốc tế hiện nay về bản chất là “cơ chế bản vị đồng USD”, có sự bất cập về nhiều mặt. Một mặt là khuynh hướng thắt chặt tiền tệ. Gánh nặng điều tiết sự mất cân bằng thu chi quốc tế chủ yếu do những nước nhập siêu khác ngoại trừ Mỹ gánh vác. Những quốc gia này không những buộc phải thông qua các biện pháp thắt chặt như tăng lãi suất, giảm bội chi ngân sách… để cân bằng thu chi quốc tế. Mặt khác, quyền lực và nghĩa vụ không có sự bình đẳng. Quyền lực mà Mỹ được hưởng lớn hơn nghĩa vụ mà họ gánh vác, họ có thể chuyển trách nhiệm và gánh nặng điều tiết mất cân bằng thu chi quốc tế sang quốc gia bên ngoài, cũng có thể trì hoãn thời gian và tiến độ điều tiết mất cân bằng thu chi quốc tế của họ. Nghĩa vụ phải gánh vác của quốc gia bên ngoài lớn hơn quyền lợi mà họ được hưởng, khi quan hệ thương mại với Mỹ xuất hiện nhập siêu thì dễ bị kiểm soát bởi “thao túng tỷ giá hối đoái” của Mỹ, thậm chí đưa ra điều chỉnh chính sách như nâng giá mạnh đồng USD. Do Mỹ không còn sự ràng buộc cứng nhắc khi xác định nâng giá trị bằng vàng của hệ thống Bretton Woods, nên khi điều chỉnh chính sách tiền tệ và chính sách ngoại hối, Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) và Bộ Tài chính Mỹ ưu tiên lợi ích nước họ nên hệ thống tiền tệ quốc tế có tính bất ổn nội tại. Ngoài ra, một phương diện khác là sự bất công. Các quốc gia bên ngoài đưa đồng USD quay trở lại Mỹ, những đồng tiền này cuối cùng lại bị các tổ chức tài chính và công ty xuyên quốc gia của Mỹ lấy tín dụng hoặc phương thức đầu tư trực tiếp để đưa trở lại những quốc gia này. Kết quả là Mỹ được hưởng một cách bất công ba lợi ích lớn: Một là hưởng lợi lớn do đồng USD làm ngoại tệ dự trữ của những nước khác; hai là do địa vị quốc tế của đồng USD mà người tiêu dùng được mua hàng hóa nước ngoài với giá rẻ. Ba là lợi ích từ tín dụng và lợi nhuận đầu tư khả quan do sự lưu động của đồng USD. Thứ hai, đồng NDT gia nhập SDR đã phản ánh thái độ tích cực của Trung Quốc tham gia hoàn thiện quản lý tài chính toàn cầu vừa là nhu cầu chủ quan của Trung Quốc tạo ra môi trường bên ngoài có lợi cho sự phát triển kinh tế của nước mình, vừa mang nghĩa cần thiết của hình ảnh “nước lớn có trách nhiệm” mà Trung Quốc thể hiện trước cộng đồng quốc tế. Trong rất nhiều các hội nghị thượng đỉnh của G20, Trung Quốc đều khởi xướng trât tự tài chính tiền tệ toàn cầu được quản lý tốt, khái niệm cốt lõi là “xây dựng hệ thống tài chính quốc tế công bằng, có tính dung nạp, nâng cao tính đại diện và quyền phát ngôn của các nước mới nổi và những quốc gia đang phát triển, đảm bảo bình đẳng quyền lợi, bình đẳng cơ hội, bình đẳng quy tắc của các nước trong hợp tác kinh tế quốc tế. Muốn đẩy nhanh và thực hiện thiết thực phương án cải cách IMF, phải tăng cường mạng lưới an ninh tài chính toàn cầu. Dưới sự khởi xướng tích cực của Trung Quốc, quản lý tài chính tiền tệ toàn cầu đã tiến triển trên ba phương diện. Một là cơ cấu quản lý của IMF đã được cải thiện. Tính đại diện và quyền phát ngôn củ các nước lớn mới nổi trong IMF gia tăng ở mức độ nhất định. Hai là nguồn lực cổ phần của IMF tăng mạnh. Từ khi phương án cải cách cổ phần và quản lý của IMF năm 2010 có hiệu lực vào ngày 26/1/2016, tổng cổ phần của 188 nước thành viên từ khoảng 238,5 tỷ SDR (khoảng 329 tỷ USD) đã tăng lên 477 tỷ SDR (khoảng 659 tỷ USD), nâng cao năng lực IMF ứng phó hiệu quả với khủng hoảng. Ba là tầm quan trọng của SDR có phần được nâng cao. Để ứng phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu, IMF đã itến hành một lần phân phối cổ phần chung (ngày 28/8/2009) với 161,2 tỷ SDR và một lần phân phối đặc biệt (ngày 9/9/2009) với 21,5 tỷ SDR, quy mô vượt xa hai lần phân phối chung trước kia (9,3 tỷ SDR thuộc giai đoạn từ 1970 – 1972 và 12,1 tỷ SDR từ năm 1979 đến 1981). Tuy nhiên SDR vẫn đối mặt với thực tế khó khăn từ hai mặt. Một mặt, so với tín dụng có điều kiện của IMF và hiệp định trao đổi tiền tệ giữa các ngân hàng trung ương, quy mô phân phối của SDR vẫn rất hạn chế, đồng thời số lần các nước thành viên IMF sử dụng SDR trong thực tế rất ít ỏi. Từ tháng 9/2009 đến tháng 6/2010, chỉ có 16 trong tổng số 186 nước thành viên của IMF đã sử dụng SDR, mục đích của họ là thông qua trao đổi tự do sử dụng tiền tệ chỉ đáp ứng chi tiêu liên quan đến nước ngoài và nhu cầu tài chính ngân sách trong nước. Mặt khác, giỏ tiền tệ SDR trong một thời gian dài do “giới tinh hoa tiền tệ” của các nước lớn phương Tây tạo ra, quyền lợi chính đáng của các nước lớn mới nổi bị coi nhẹ vì vậy dẫn đến đông đảo các nước thành viên IMF thiếu động lực và nhiệt tình sử dụng SDR. Do đó, việc gia nhập SDR của đồng NDT phá vỡ cục diện độc quyền trong một thời gian dài của đồng tiền các nước lớn phương Tây, cùng với việc gia tăng tính ổn định giá trị đồng tiền của SDR, sự kiện này đã mở rộng lựa chọn đa dạng của cộng đồng quốc tế đối với tính lưu động, giúp ích nhiều hơn về xây dựng cơ sở hợp pháp của IMF trong quản lý tài chính tiền tệ toàn cầu.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Quan hệ quốc tế hiện đại (TQ)

TLTKĐB – 07 – 08/10/2016

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s