Bên cạnh nền tảng của các nghĩa vụ trọng tâm, còn có những quy định cụ thể hơn nhằm đưa các chính sách thương mại của các quốc gia vào khuôn khổ: trước tiên đó là cấm những biện pháp hạn chế số lượng hàng hóa trao đổi (Điều XI), đưa ra các quy định về trợ cấp (Điều XVI) và về bán phá giá (giá bán trên thị trường nước ngoài thấp hơn giá bán của nhà sản xuất trên thị trường nội địa, Điều VI).

Bên cạnh đó, WTO còn có chức năng áp dụng trong một số lĩnh vực thuộc chính sách công (giao thầu công, các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại, các tiêu chuẩn về y tế) các tiêu chuẩn quy định yêu cầu phải có các tiêu chí về sự minh bạch và không phân biệt đối xử đối với các nhà xuất khẩu nước ngoài.

Một số ngoại lệ so với những quy định này cũng được đưa ra. Ví dụ như các quốc gia thành viên, theo một số điều kiện, có thể thành lập các khu hải quan (Điều XXXIV). Hay WTO đưa ra các điều khoản tự vệ khác với những quy định chung tùy theo tình hình của đất nước (trình độ phát triển, gặp vấn đề về thanh toán) hay tùy theo mức độ đe dọa đối với một lĩnh vực nào đó. WTO cũng chấp thuận những điều chỉnh dành cho các nước đang phát triển dưới hình thức các ngoại lệ so với nguyên tắc MFN (các ưu đãi dành cho nhau và không mở rộng sang cho các nước phát triển), điều này thể hiện qua việc tồn tại các thỏa thuận ngoại lệ nằm ngoài hệ thống của WTO (các thỏa thuận tự giới hạn vùng xám của GATT đối với một số lĩnh vực nhạy cảm, thỏa thuận Hiệp định đa sợi – MFA, hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập trái với điều khoản MFN).

WTo cũng đảm nhận chức năng giải quyết các tranh chấp thương mại giữa các quốc gia thành viên.

Việc thiết lập một cơ chế xét xử có thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp theo các quy trình mang tính chất ràng buộc và được thắt chặt bằng các thời hạn ngắn, và có quyền đưa ra các biện pháp trừng phạt có hiệu lực, đánh dấu một bước tiến quan trọng so với hệ thống GATT. Cùng với việc thành lập Cơ quan Giải quyết tranh chấp (DSB), năng lực giải thích các tiêu chuẩn và hợp thức hóa các biện pháp trừng phạt thương mại thể hiện qua việc số lượng các vụ tranh chấp phải giải quyết tăng lên nhanh chóng. Các nước phát triển mà trước là Mỹ tỏ ra rất tích cực trong vai trò là bên khởi kiện hay bên bị kiện, và thường là nước này kiện chống lại nước kia. Nhưng số lượng ngày càng gia tăng các vụ tranh chấp có liên quan đến các nước đang phát triển thể hiện thiên hướng của WTO làm thế nào để ngày càng nhiều các quốc gia tham gia vào quá trình điều tiết hoạt động trao đổi trên thế giới cũng như điều tiết các chính sách thương mại.

Cuối cùng WTO có chức năng thu thập và phổ biến thông tin về các chính sách thương mại của các quốc gia thành viên.

4.3/ Chỉ trích và kiến nghị cải cách

Cơ quan Giải quyết tranh chấp (DSB) được thành lập thể hiện một bước tiến hướng tới việc xây dựng một trật tự pháp lý quốc tế. Nhưng đây cũng chính là nguồn gốc phát sinh ba khó khăn mới.

Đối tượng bị chỉ trích trước hết chính là bản chất và việc thực thi các chế tài được WTO cho phép. Trên thực tế, hệ thống DSB cho phép các quốc gia là nạn nhân của những biện pháp không tương thích với các tiêu chuẩn của WTO tự đem lại công bằng cho mình. DSB không đưa ra các chế tài mang tính chất hình sự mà quyết định cho phép hay không cho phép các biện pháp trả đũa do một quốc gia thành viên đưa ra. Mô hình “công lý tư” này thực hiện sự điều tiết mà không có sức mạnh từ bên ngoài đối với các bên, điều này đặt ra vấn đề thực thi các chế tài (Frison-Roche, 2000). Các biện pháp trả đũa thương mại do các quốc gia nhỏ bé áp dụng đối với các cường quốc thương mại trên thực tế không mang tính chất răn đe. Hơn nữa, không phải lúc nào các doanh nghiệp là nạn nhân cũng như các doanh nghiệp được hưởng lợi từ các biện pháp bị lên án phải chịu những biện pháp trừng phạt này vẫn còn gây tranh cãi.

Marine-Anne Frison-Roche đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết những khó khăn nêu trên. Ví dụ như thiết lập một hệ thống khôi phục lại những lợi ích đối với các doanh nghiệp là nạn nhân, quyền trả đũa của quốc gia nạn nhân sẽ được DSB quy định chặt chẽ hơn.

Hiệu lực của hệ thống các chế tài sẽ được nâng cao thông qua việc trao cho DSB quyền đưa ra chế tài về tài chính giống như quyền mặc nhiên đưa ra lệnh chi trả trong luật về cạnh tranh của châu Âu. Hay giao cho DSB quyền yêu cầu quốc gia vi phạm phải sửa đổi các chính sách thương mại để các quốc gia này không thể bỏ tiền ra mua lại quyền vi phạm các quy định.

Loại khó khăn thứ hai liên quan đến sự cần thiết đối với DSB thiết lập cơ quan xét xử chỉ chuyên về các tiêu chuẩn thương mại, điều này đặt thành vấn đề khi mà mục tiêu này xung đột với các quan tâm khác (ví dụ như tiêu chuẩn xã hội, môi trường, y tế). Cần phải tìm kiếm các giải pháp nhằm cải thiện quan hệ hợp tác với các thể chế phụ trách vấn đề này.

Cuối cùng, nguồn lực hành chính của WTO kế thừa từ GATT còn hạn chế tỏ ra là một điểm yếu trước tính phức tạp, quy mô cũng như đặc điểm ngày càng mang tính xung đột của các chủ đề mà tổ chức mới này xem xét.

Điểm yếu này thể hiện qua sự bất bình đẳng giữa các nước do quy mô và năng lực của phái đoàn các nước khác nhau. Một số quốc gia chiếm một vị trí khiêm tốn trong nền thương mại thế giới sẽ sẵn sàng ủng hộ một Ban Thư ký hoạt động tích cực hơn và được trang bị tốt hơn để có thể bảo vệ tốt hơn các lợi ích thương mại của những nước này. Tuy nhiên, các quốc gia mạnh nhất lại phản đối ý tưởng này vì những lý do ngân sách, do mức độ đóng góp cho ngân sách phụ thuộc vào vị trí nắm giữ trong hoạt động trao đổi thương mại trên thế giới, cũng như vì những lý do thể chế, hệ thống bỏ phiếu (một nước = một lá phiếu) khiến các nước quan trọng nhất luôn dành ưu thế cho phái đoàn của nước mình có thể gây ảnh hưởng trong việc điều hành các hoạt động của WTO.

Ngoài ra, việc thiếu văng một cơ sở nghiên cứu và thẩm định tự chủ có hệ thống (giống như tại OECD, IMF hay WB) có thể làm phát sinh những chi phí cao hơn trong việc tìm kiếm sự đồng thuận do thiếu một sức ép giữa các bên tham gia khi tranh luận về các chính sách thương mại.

Các kiến nghị cải cách có thể đưa ra trong lĩnh vực này rất đa dạng. Đã có ý kiến đề xuất thiết lập một cơ quan với quy mô hạn chế hay một ban điều hành giống như Ủy ban Tài chính và Tiền tệ quốc tế của IMF nhằm tạo điều kiện cho việc tìm kiếm sự đồng thuận (Ostry, 2000). Nhưng kiến nghị này vấp phải vấn đề liên quan đến hệ thống đại diện của các thành viên.

Tuy nhiên, tăng cường hỗ trợ kỹ thuật cho các phái đoàn hay mở rộng nghiên cứu tại thủ đô các quốc gia thành viên, tuy là cần thiết, song lại có những hạn chế do việc đã tồn tại các năng lực đáng kể tại Quỹ Tiền tệ quốc tế hay Ngân hàng Thế giới về tự do hóa thương mại, điều này khuyến khích các thể chế phát triển quan hệ hợp tác (Vines, 1998).

Ngoài những chỉ trích và kiến nghị cải cách nêu trên, WTO còn phải đối mặt với những đòi hỏi ngày càng tăng về sự minh bạch do xã hội dân sự và một số nước đưa ra trong quá trình đàm phán cũng như trong các quy trình pháp lý (lựa chọn các thành viên của Nhóm đặc biệt, công bố các quyết định) nhằm đảm bảo công bằng hơn và tiếp cận DSB tốt hơn. Việc tăng cường Ban Thư ký đáp ứng đòi hỏi về sự minh bạch và đảm bảo công bằng giữa các bên.

Tuy nhiên, nỗ lực WTO trong vấn đề này vấp phải sự không cân xứng ngày càng lớn giữa một bên là sự yếu kém tương đối về năng lực thế chế và một bên là khối lượng các nhiệm vụ.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Thomas Boisson – Phân tích toàn cảnh các thiết chế quản trị toàn cầu – NXB CTQG 2003.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s