Khác với những người hoạt động tích cực ở cả hai phía, hầu hết người Mỹ bị chia rẽ trong vấn đề này. Các đa số nhất trí rằng “nạo phá thai là tội giết người” (62%) và “sai trái về đạo đức” (61%), nhưng họ cũng cho rằng một phụ nữ nên được phép tiến hành nạo phá thai nếu như cô ấy muốn và bác sĩ của cô ấy nhất trí với điều đó (61%) và phản đối một tu chính án Hiến pháp coi nạo phá thai là trái pháp luật (70%). Có lẽ việc thể hiện rõ nhất quan điểm của một người bình thường được tóm lược bởi một phương án lựa chọn được đưa ra trong một cuộc thăm dò ý kiến về vấn đề này: “Cá nhân tôi cảm thấy rằng nạo phá thai là sai trái về đạo đức, nhưng tôi cũng cảm thấy rằng việc có hay không nạo phá thai là một quyết định tùy thuộc vào mọi phụ nữ đối với riêng bản thân mình”; 78% nhất trí.

Nạo phá thai là một thể loại vấn đề có thể thách thức quyết định chính trị bởi vì mức chênh lệch quan điểm rộng về các giá trị thường không để lại chỗ cho sự nhất trí hành động. Nó tạo ra những phản ứng mạnh mẽ trong các nhóm thiểu số thuộc cả hai phía, những người không chấp nhận điều gì thấp hơn là sự ủng hộ hoàn toàn cho lập trường của họ. Hơn nữa, những phản ứng dữ dội lại phổ biến hơn nhiều trong số các nhà vận động chính trị (một vài người trong số họ là các nhà vận động chính là do những phản ứng căng thẳng của họ), và chúng phổ biến nhất trong nhóm đa số đã ủng hộ một lệnh cấm nạo phá thai hoàn toàn. Những người dân thường lại ít chắc chắn hơn nhiều về cách giải quyết vấn đề này và vẫn không cảm thấy vấn đề gì với một trong hai thái cực. Như vậy, việc khai thác khía cạnh chính trị của vấn đề là một việc làm tế nhị. Khi vận động để được tái đắc cử năm 2002, Tổng thống Bush đã phải duy trì một lập trường “ủng hộ quyền sống” vững chắc để chắc chắn có được sự ủng hộ nhiệt thành từ những người Cơ đốc giáo bảo thủ, những người mà nhiều trong số họ là đảng viên Cộng hòa chủ yếu do đảng này cam kết với việc cấm nạo phá thai, mà không làm cho những người ôn hòa không cam kết lo lắng rằng “sự lựa chọn” đó sẽ bị đe dọa ngay lập tức nếu như ông ta giành thắng lợi bầu cử.

Người Mỹ thường có những lập trường bảo thủ về hầu hết mọi vấn đề xã hội khác, nhưng trên thực tế quan điểm của họ được cân đối bởi sự tôn trọng mạnh mẽ đối với quyền tự do cá nhân. Yêu cầu cầu nguyện chính thức trong các trường công, vốn đã bị cấm bởi những phán quyết của Tòa án tối cao vào những năm 1960, nhận được sự ủng hộ rộng rãi của ông chúng. Cũng như vậy, các đa số lớn thường có những lập trường “luật lệ và trật tự” mạnh mẽ, ủng hộ việc áp dụng tội tử hình đối với những kẻ sát nhân và chống lại việc hợ pháp hóa những loại ma túy như gai dầu và cocaine. Năm 1999, hai phần ba dân chúng ủng hộ một tu chính án Hiến pháp cho phép Quốc hội quy định hành động đốt cờ Mỹ như một hình thức phản kháng chính trị là bất hợp pháp. Rất ít người ủng hộ quyền tiếp cận không giới hạn đối với những vật dụng, tài liệu khiêu dâm. Xu hướng bảo thủ đã phát triển trong thập niên 1990 khi những vấn đề tội phạm, nghiện ma túy, các gia đình chỉ có cha hoặc mẹ, và tình trạng phụ thuộc vào phúc lợi trở thành tiêu điểm của sự chú ý chính trị. Tuy nhiên công chúng vẫn không mấy ủng hộ việc sử dụng chính quyền để áp đặt những tiêu chuẩn đạo đức truyền thống lên cá nhân các công dân. Hầu hết mọi người (khoảng 80%) tin rằng đồng tính là vô đạo đức, nhưng một đa số (57%) nghĩ rằng các mối quan hệ đồng tính giữa những người trưởng thành đồng ý với nhau cần được coi là hợp pháp. Các đa số chống lại hôn nhân giữa các cặp đồng tính, nhưng hầu hết người Mỹ lại ủng hộ một hình thức thừa nhận pháp lý nào đó đối với các cặp đồng tính.

Chính sách đối ngoại. Trong cuộc vận động tranh cử năm 2004, các vấn đề thuộc chính sách đối ngoại, đặc biệt những vấn đề liên quan đến cuộc chiến ở Iraq, nằm ở tâm điểm chú ý của công chúng, chia sẻ vị trí nổi bật với nền kinh tế. Xét đến những lời biện minh gây tranh cãi cho cuộc chiến ở Iraq và tổn phí ngày càng tăng về mạng sống người Mỹ và ngân khố, điều này không có gì đáng ngạc nhiên. Nhưng nó rất bất thường. Ngoại trừ khi người Mỹ đang chết dần chết mòn ở nước ngoài, các vấn đề trong chính sách đối ngoại thường rất xa lạ với những trải nghiệm hàng ngày, và rất ít người duy trì một sự chú ý lâu bền đến các vấn đề đối ngoại. Trong những thời điểm tương đối tĩnh lặng như vậy, công luận bàn về chính sách đối ngoại thường đặc biệt phù hợp với sự dẫn dắt quan điểm. Tổng thống là người dẫn dắt quan điểm quan trọng nhất về chính sách đối ngoại, nhưng ảnh hưởng của tổng thống lại khác nhau tùy thuộc vào việc liệu những người dẫn dắt quan điểm khác – các chính trị gia đối địch, chuyên gia về chính sách đối ngoại, và các nhà bình luận tin tức – nhất trí hay không nhất trí với Nhà Trắng. Kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các đa số lớn đã ủng hộ một vai trò quốc tế tích cực của nước Mỹ, nhưng việc hậu thuẫn cho những chính sách cụ thể lại rất khác nhau.

Cho đến trước sự sụp đổ của Liên bang Xôviết vào cuối năm 1991, cuộc xung đột chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Liên Xô vẫn tạo thành khung cho cả công luận lối suy nghĩ của các quan chức về các vấn đề đối ngoại. Mục đích đã tuyên thệ của Mỹ là “kiềm chế” Liên Xô nhằm ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản đã nhận được sự chấp nhận rộng rãi của công chúng, nhưng công chúng cũng không đồng ý về tất cả những hành động được tiến hành dưới danh nghĩa kiềm chế. Cả cuộc chiến ở Việt Nam lẫn Triều Tiên đều mất đi sự ủng hộ của dân chúng khi mức độ thiệt hại tăng lên. Sau đó, các đa số đã phản đối những đề nghị của chính quyền Reagan và của chính quyền Bush về việc hỗ trợ quân sự cho các phần tử chống đối ở Nicaragua trong cuộc nội chiến của họ chống lại Chính phủ Sandino có tính xã hội chủ nghĩa rõ ràng. Trong tất cả những trường hợp này, sự chia rẽ của công chúng phản ánh một cách trực tiếp những chia rẽ trong những người dẫn dắt quan điểm. Nói chung, quan điểm về việc liệu có nên có một biện pháp cứng rắn hơn hay thỏa hiệp hơn đối với người Liên Xô rất khác nhau theo cách hiểu của người Mỹ về hành vi Liên Xô đưa quân và Afghanistan năm 1979 đã khiến đường lối cứng rắn hơn được người dân ủng hộ nhiều hơn, trong khi đó các thỏa thuận kiểm soát vũ khí giữa Mỹ và LIên Xô trong những năm tháng chiến tranh lại làm cho đường lối hòa giải hơn nhận được sự ủng hộ nhiều hơn.

Các nhà lãnh đạo quốc gia đã không hề đạt được một sự đồng thuận mới về một khuôn khổ hướng dẫn cho chính sách đối ngoại Mỹ trong kỷ nguyên hậu chiến tranh lạnh vào thập niên 1990, và công chúng cũng vậy. Cuộc chiến chống lại Iraq nhằm giải phóng Kuwait vào năm 1991 đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi của dân chúng ngay cả trước khi có sự thành công đáng ngạc nhiên của nó bởi vì sự xâm lược của Iraq đe dọa đến nền kinh tế Mỹ (bằng cách đặt nguồn cung ứng dầu ở Vịnh Persian vào thế nguy hiểm) và đe dọa cả đồng minh gần gũi nhất của Mỹ ở khu vực này là Israel. Nhưng chính quyền Clinton đã gặp phải rất nhiều khó khăn khi xây dựng cơ sở ủng hộ của dân chúng cho các chính sách nhằm giải quyết xung đột ở Somalia, Bosnia, Haiti, một phần là bởi vì bản thân chính quyền này cũng mơ hồ về mục tiêu của quốc gia trong những cuộc xung đột này và một phần bởi vì những người dẫn dắt quan điểm khác chống lại các chính sách của chính quyền.

Thái độ thụ động và sự chia rẽ về các vấn đề chính sách đối ngoại đã chấm dứt hầu như ngay lập tức với việc tấn công Trung tâm thương mại thế giới và Lầu năm góc. Các vấn đề chính sách đối ngoại đã trở thành một cái gì đó không còn xa vời. Chính quyền Bush lập tức đi tới dành mọi nguồn lực đối ngoại của mình cho việc tiến hành một cuộc chiến trên nhiều mặt trận chống lại chủ nghĩa khủng bố. Các nhà lãnh đạo thuộc cả hai đảng dành sự ủng hộ áp đảo cho những hành động ban đầu của chính quyền, và công chúng cũng vậy; trong cuộc thăm dò ý kiến vào tháng Mười 2001, chín trong số mười người Mỹ nói rằng họ ủng hộ hành động quân sự hiện thời chống lại các tổ chức khủng bố và chính phủ Taliban ở Afghanistan. Một đa số lớn thậm chí còn sẵn sàng chấp nhận một vài nghìn người Mỹ thiệt mạng nếu như điều đó là cần thiết để thành công. Với bản thân nước Mỹ đang nằm ở thế nguy hiểm thì ban đầu rất ít cần đến việc dẫn dắt quan điểm; quả thực, bất cứ nhà lãnh đạo nào không ủng hộ việc có một phản ứng rõ ràng và mạnh mẽ đều có thể lãnh đủ trước dư luận quần chúng. Nhưng sau sự tháo chạy của chính phủ Taliban ở Afghanistan vào tháng Mười hai, việc chuyển hướng chú ý của chính quyền sang Iraq lại không có được sự ủng hộ đồng nhất cao đến như vậy và, như đã nêu, trở nên ngày càng chia rẽ theo quan điểm đảng phái về sự thiệt hơn của việc đưa quân vào Iraq. Thay vì chia sẻ sự đồng thuận, công chúng đã trở nên chia rẽ không chỉ về vấn đề Iraq, mà còn về tính hợp thức của những cuộc chiến thiếu hợp lý và giá trị của việc bắt tay với các đồng minh hay quan hệ với Liên hợp quốc. Rất ít người tranh cãi về sự cần thiết phải đấu tranh chống chủ nghĩa khủng bố nhằm bảo vệ tổ quốc Mỹ, nhưng không có sự nhất trí nào về cách thức tiến hành tốt nhất để đạt được mục tiêu này.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s