Là một minh chứng quan trọng cho việc quốc tế hóa thành công trên phương diện chính thức, về lâu dài việc đồng NDT gia nhập SDR chắc chắn sẽ nảy sinh ảnh hưởng tới hướng đi của hệ thống tiền tệ quốc tế trong tương lai. Nhìn vào kết cấu của giỏ tiền tệ quốc tế SDR, thực sự chỉ có đồng USD đúng với danh xưng đồng tiền quốc tế. Cho dù là quy mô tổng thể kinh tế (GDP, ngoại thương), lòng tin đối với đồng tiền, hay là quy mô, chiều sâu cũng như mức độ mở cửa của thị trường tài chính, thì địa vị là đồng tiền dự trữ mang tính toàn cầu của đồng USD sẽ không thể lung lay trong ngắn hạn. Từ khi ra đời năm 1999 đến nay, tuy đồng euro có sự thay thế đồng USD ở một mức độ nhất định, nhưng phần nhiều mới chỉ là có ưu thế cạnh tranh rõ rệt so với đồng USD trong nội bộ các nước khu vực đồng euro. Hơn nữa, Ngân hàng Trung ương châu Âu đã xác định rõ euro là đồng tiền mang tính khu vực, chứ không có ý định thách thức địa vị tiền tệ toàn cầu của đồng USD. Ngoài ra, do thị trường trái phiếu của khu vực đồng euro thiếu sự thống nhất, thực lực kinh tế và trình độ phát triển tài chính của các nước thành viên không đồng đều, cũng như sự thiếu hụt về mặt cơ chế của chính sách tiền tệ thống nhất và mỗi nước một chính sách tài chính riêng cùng tồn tại, khiến đồng euro trong thời gian ngắn khó mà trở thành đồng tiền quốc tế ngang hàng với đồng USD. Về đồng bảng Anh và Yen Nhật, do chịu sự hạn chế của tổng lượng kinh tế, hai đồng tiền này rất khó tạo nên sự cạnh tranh thực sự đối với địa vị đồng tiền quốc tế mang tính chủ đạo của đồng USD.

Đồng NDT mới gia nhập “câu lạc bộ các đồng tiền dự trữ hàng đầu”, lại có tiềm lực phát triển thành đồng tiền quốc tế quan trọng, từ đó khiến hệ thống tiền tệ quốc tế trong tương lai đi theo hướng đa cực hóa. Trước tiên, việc đồng NDT gia nhập SDR phù hợp với tiêu chuẩn về hiệu suất. Một hệ thống tiền tệ quốc tế có hiệu suất là phải kịp thời phản ánh sự thay đổi của kết cấu kinh tế thế giới đồng thời cung cấp tính thanh khoản cần thiết cho nền kinh tế thế giới. Đồng NDT gia nhập SDR đã phản ánh hiện thực của nền kinh tế thế giới với sự trỗi dậy của nước lớn mới nổi là Trung Quốc, điều này giúp tăng cường tính hợp pháp của SDR với tư cách là tài sản dự trữ quốc tế. Hiệp định trao đổi tiền tệ song phương được ký kết từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến nay cũng chứng minh Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đang phát huy vai trò quan trọng của “nhà cung cấp tính thanh khoản”. Thứ hai, đồng NDT gia nhập SDR phù hợp với tiêu chuẩn ổn định. Một hệ thống tiền tệ quốc tế ổn định cần phải đảm bảo tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền quốc tế chủ chốt không xuất hiện biến động mạnh cũng như sự ổn định về mặt giá trị của SDR trong vai trò tổ hợp của những đồng tiền này. Do Trung Quốc thúc đẩy tự do hóa tỷ giá một cáh vững chắc, mong đợi của thị trường về sự biến động mạnh của tỷ giá đồng NDT so với đồng USD đang dần tiêu tan, tỷ giá giữa đồng NDT và đồng USD trong dài hạn sẽ duy trì xu thế tương đối ổn định. SDR bao gồm 5 loại tiền tệ chủ yếu cũng vì khả năng tương tác cao thấp của tỷ giá giữa các đồng tiền khác nhau mà duy trì được sự ổn định tương đối về mặt giá trị. Cuối cùng, đồng NDT gia nhập SDR phù hợp với tiêu chuẩn công bằng. Một hệ thống tiền tệ quốc tế công bằng cần phải tiếp nhận tính đại diện và quyền phát ngôn của các nước có trình độ phát triển khác nhau. Một Trung Quốc nhanh chóng trỗi dậy cho dù về tổng lượng kinh tế hay mức độ quan tâm về tiền tệ, đều là một nền kinh tế quan trọng bảo đảm bình đẳng quyền lợi, bình đẳng cơ hội, bình đẳng quy tắc… cho các nước trong hợp tác kinh tế quốc tế, đồng NDT gia nhập SDR không những làm cho Trung quốc mà còn làm cho các nước mới nổi và các nước đang phát triển khác có được sự công bằng trong quản lý tài chính – tiền tệ toàn cầu.

Tuy nhiên, trong tương lai gần, vai trò của việc đồng NDT nổi lên đối với việc thúc đẩy hệ thống tiền tệ quốc tế đa cực hóa cũng chưa có hiệu quả nhanh chóng, rất khó hình thành thế kiềng 3 chân “USD, euro, NDT”, nhiều khả năng bố cục là “một siêu cường” (USD) “hai nước lớn” (euro, NDT), “hai nước nhỏ hơn” (bảng Anh và Yen Nhật) cùng tồn tại. Trong đó có một vài nguyên nhân. Đầu tiên, ngoài các yếu tố nâng đỡ địa vị bá quyền toàn cầu của đồng USD như quy mô kinh tế, lòng tin đối với đồng tiền, thị trường tài chính đã có chuyển biến xấu, ví dụ như năng lực sáng tạo và hiệu quả trong sản xuất trong đời sống kinh tế Mỹ trượt dốc không phanh, Mỹ không đủ năng lực trong quản lý thâm hụt tài chính khổng lồ của mình cũng như hệ thống tài chính xảy ra rủi ro nghiêm trọng mang tính hệ thống, nếu không, đồng tiền của các nền kinh tế ngoại vi chủ yếu như châu Âu, Trung Quốc, Anh, Nhật Bản rất khó phá vòng vây thành công từ “hiệu ứng mạng lưới” “mặc định của USD”. Thứ hai, đối với khu vực đồng euro và Trung Quốc, cho dù là về mặt thể chất tốt của nền kinh tế, hay là tính ổn định về lòng tin tiền tệ, hay mức độ trưởng thành của thị trường tài chính, đều cách Mỹ một khoảng cách không nhỏ, trong ngắn hạn đồng tiền của các nước này không thể trỗi dậy đến mức có thể ngồi ngang hàng với đồng USD. Thứ ba, ngoài Mỹ, các nước khác cũng đang đối mặt với “khó khăn trong hành động tập thể” trong tiến trình thúc đẩy đa cực hóa hệ thống tiền tệ quốc tế. Mặc dù cơ chế bản vị đồng USD ẩn chứa rủi ro lớn, nhưng cho dù là các nước khu vực đồng euro đang mốn củng cố nền tảng của đồng euro, hay là Anh với quyết tâm khôi phục địa vị trung tâm tài chính quốc tế của London, hoặc là Nhật Bản mong muốn đảm bảo quốc tế hóa đồng Yen, cũng như Trung Quốc đang nỗ lực mở rộng tầm ảnh hưởng quốc tế cho đồng NDT, đều vẫn có thể đạt được lợi ích khả quan từ việc mở rộng thương mại và phát triển kinh tế trong cơ chế bản vị đồng USD. Do đó, sự nhận thức, kêu gọi và nỗ lực đối với đa cực hóa hệ thống tiền tệ quốc tế là mang đặc trưng của “mô hình khủng hoảng thúc giục khiến phải vậy”, liệu các bên có đạt được nhận thức chung và nỗ lực cho mục tiêu tiếp tục thúc đẩy đa cực hóa hệ thống tiền tệ quốc tế hay không vẫn là một ẩn số. Cuối cùng, đối mặt với đồng tiền của bất cứ nước lớn (hoặc khu vực) nào có khả năng thách thức và đe dọa địa vị bá chủ tiền tệ của mình, Mỹ đều sẽ có không tiếc sức lực để gây sức ép. Ví dụ, đối mặt với một Nhật Bản trỗi dậy nhanh về kinh tế sau chiến tranh, những năm 80 của thế kỷ 20, Mỹ tập trung thực thi ngoại giao tài chính tiền tệ đối với Nhật Bản, sau khi dựa vào “Báo cáo của Ủy ban hợp tác đặc biệt Mỹ – Nhật về đồng USD – Yen Nhật”, xúi giục thành công Chính phủ Nhật Bản nhiệt tình thúc đẩy quốc tế hóa đồng Yen Nhật, lại thông qua Hiệp định Plaza tháng 9/1985 và Hiệp định Louvre tháng 2/1987 thúc đẩy tỷ giá đồng Yen tăng cao so với đồng USD như mong muốn, gây ra sự suy thoái kinh tế 20 năm sau đó, Mỹ lại tấn công vào nền móng của tăng trưởng kinh tế, lòng tin tiền tệ và thị trường tài chính mà sự quốc tế hóa đồng Yen dựa vào để tồn tại. Để đối phó với những tác động do sự ra đời của đồng euro đối với quyền bá chủ của đồng USD, Mỹ dẫn đầu NATO phát triển Chiến tranh Kosovo trong 78 ngày (từ ngày 24/3 đến ngày 10/6/1999), hậu quả là đồng euro mất giá mạnh so với đồng USD. Chiến tranh vừa bắt đầu, tỷ giá giữa đồng euro với đồng USD đã mất giá gần 4%, giảm từ 1:1,180 của ngày 4/1 xuống còn 1:1,062, sau đó lại giảm thêm 10%, đến đầu tháng 6 tụt xuống mức thấp nhất kể từ khi bắt đầu là 1:1,033, ngày 12/7 lại tụt xuống còn 1:1,0115.

Để tăng cường địa vị quốc tế của đồng NDT, thích ứng với xu thế đa cực hóa hệ thống tiền tệ quốc tế, Trung Quốc vẫn cần phải tích cực cố gắng. Thứ nhất, xác định chính xác vai trò của mình. Một là xác định rõ địa vị của Trung Quốc trong cộng đồng quốc tế hiện nay. Trung Quốc vừa là nước đang phát triển, vừa là nước lớn mới nổi có địa vị hết sức quan trọng trong các công việc quốc tế, cần phải tích cực tìm cách nâng cao quyền phát ngôn trong hệ thống tiền tệ quốc tế. Hai là, xác định rõ vai trò của Trung Quốc trong hệ thống tiền tệ quốc tế hiện hành. Trung Quốc vừa là “nước hưởng lợi” của cơ chế bản vị đồng USD (kinh tế dài hạn tăng trưởng cao, ngoại thương phát triển mạnh, dự trữ ngoại hối lớn), lại vừa là “nước trụ cột” lớn nhất của hệ thống này (nước nắm giữ trái phiếu nhiều nhất của Bộ Tài chính Mỹ), Trung Quốc trong ngắn hạn về căn bản không có nhu cầu chiến lược thay đổi hệ thống tiền tệ quốc tế hiện hành. Thứ hai, tìm kiếm rộng rãi những nhận thức chung ở tầng sâu, mục đích là phát hiện “lợi ích rộng khắp” giữa các thành viên, tạo điều kiện tiền đề để thúc đẩy các hành động tập thể. Trước mắt, lợi ích giữa các nước đan xen nhau, đặc biệt là dưới sự tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu, việc cải cách hệ thống tiền tệ quốc tế hiện hành phù hợp với lợi ích chung của các nước liên quan, cũng là nhận thức chung của những nước này. Sự tìm kiếm nhận thức chung của Trung Quốc đối với việc cải cách hệ thống tiền tệ quốc tế không thể dừng ở mức độ “có cần cải cách”, “gia nhập SDR đã là hoàn thành việc lớn”, mà phải cùng với các nước liên quan đạt được nhận thức chung ở tầng sâu về những vấn đề thực chất như “cải cách cái gì, cải cách như thế nào”. Thứ ba, tham gia cung cấp sản phẩm chung quốc tế. Cải cách hệ thống tiền tệ quốc tế là quá trình đổi mới cơ chế cung cấp sản phẩm chung quốc tế. Đồng NDT gia nhập SDR chỉ là một bước trong trình tự cung cấp tài sản dự trữ ổn định và đảm bảo ổn định các đồng tiền quốc tế cho thế giới. Với tư cách là một nước lớn có trách nhiệm, Trung Quốc cần phải từng bước tham gia cung cấp sản phẩm chung quốc tế: Một là, lợi dụng thời cơ chuyển đổi mang tính chiến lược của cơ cấu kinh tế trong trạng thái bình thường mới, vừa phải thúc đẩy vững chắc việc thực thi cải cách mang tính kết cấu theo hướng trọng cung, vừa phải thúc đẩy vững chắc động lực tăng trưởng kinh tế chuyển từ nhu cầu bên ngoài sang nhu cầu trong nước, không những quan tâm tới việc mở rộng quy mô xuất khẩu, mà còn phải trở thành “nước cung cấp thị trường” cho các nước khác để nâng cao sức hấp dẫn của đồng NDT đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu các nước. Hai là nâng cao năng lực điều tiết chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá hối đoái để duy trì sự ổn định tương đối của tỷ giá đồng NDT, cung cấp “bộ máy ổn định bên ngoài” cho cơ chế tỷ giá hối đoái và thị trường tài chính của các nước hoặc khu vực khác. Ba là, thúc đẩy vững chắc xây dựng thị trường tài chính trong nước và tiến trình mở cửa tài khoản vốn, cung cấp liều “thuốc an tâm” cho các nhà đầu tư quốc tế trong việc sử dụng, nắm giữ và giao dịch đồng NDT một cách tự do và tiện lợi.

Nguồn: Tạp chí Quan hệ quốc tế hiện đại (TQ)

TLTKĐB – 07 – 08/10/2016

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s