6/ Tổ chức Y tế thế giới

6.1/ Lịch sử

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ra đời tại một hội nghị quốc tế tổ chức vào tháng 6 năm 1946 và HIến chương của WHO có hiệu ực từ ngày 7 tháng 4 năm 1948. Lúc bấy giờ, mục tiêu hoạt động của các tổ chức y tế quốc tế hiện có chỉ nhằm hạn chế sự lây lan của các loại bệnh có liên quan đến sự phát triển gia tăng trong quan hệ quốc tế và trao đổi thương mại. Ngoài ra, các tổ chức này chú trọng nhiều hơn đến bảo vệ người dân châu Âu. WHO ra đời tạo nên sự thay đổi căn bản về triển vọng so với tình hình trước đó. Điều 1 Hiến chương WHO tuyên bố mục tiêu của WHO là “đưa tất cả các dân tộc lên mức độ sức khỏe cao nhất có thể”.

Tuy nhiên WHO kế thừa rất nhiều kinh nghiệm của các hội nghị hay các tổ chức mà WHO đã quy tụ lại và sự kế thừa này được thể hiện rất rõ nét trong cơ cấu của chính WHO. Ví dụ như việc tồn tại Văn phòng Y tế liên châu Mỹ, sau này trở thành văn phòng khu vực của WHO, đã khiến WHO lựa chọn một cơ cấu hoạt động theo vùng.

Quá trình phát triển của WHO cho tới đầu những năm 1990 trải qua hai giai đoạn lớn.

Từ năm 1948 đến năm 1977, các chiến lược của WHO, chủ yếu là chiến lược y tế nhằm vào các căn bệnh gây ra những thiệt hại nặng nề nhất trên thế giới giai đoạn sau chiến tranh. Trong giai đoạn này, hợp tác quốc tế phát triển do chính phủ các nước ý thức được sự cần thiết phải hợp tác với nhau để cùng giải quyết tại mỗi nước hay trên quy mô quốc tế các vấn đề sức khỏe.

Tuy nhiên, thất bại của một số chương trình được triển khai tại các nước đang phát triển chủ yếu do tình hình kinh tế của những nước này, đã khiến WHO định hướng lại một cách căn bản những hoạt động của mình. Do vậy, vào năm 1977, WHO đã đưa ra khái niệm mới “sức khỏe cho tất cả mọi người từ nay đến năm 2000” trên cơ sở giảm những chênh lệch về chăm sóc sức khỏe trên thế giới, cải cách các chính sách y tế và do đó giảm các hoạt động về dịch tễ học.

6.2/ Những chức năng, nhiệm vụ chính

WHO sử dụng hai phương thức hành động: các biện pháp được gọi là biện pháp chiều dọc, dưới hình thức các chương trình thanh toán các loại bệnh, và các biện pháp theo chiều ngang nhằm tăng cường các cơ cấu y tế quốc gia. WHO đảm nhận bốn chức năng chính sau:

WHO chủ yếu đóng vai trò lập quy. Vai trò này được thực thi qua việc bỏ phiếu tại Hội nghị toàn thể. Cho tới năm 1996, các thỏa thuận hay công ước được thông qua chỉ đề cập tới những vấn đề hành chính. Ở thời điểm này, Tổng Giám đốc của WHO dựa vào Điều 19 của Hiến chương WHO để đưa ra cuộc đàm phán về một thỏa thuận khung đối với một vấn đề y tế cộng đồng, đó là kiểm soát việc hút thuốc lá. Cùng với quá trình lập quy một cách gián tiếp này, WHO cũng có quyền đưa ra các quy định một cách trực tiếp mà quyền này còn hiếm hoi trong luật pháp quốc tế, dưới hình thức các Quy định y tế quốc tế (IHR, Điều 21). Những quy định này được đưa vào áp dụng ngay sau khi được phiên họp toàn thể thông báo cho các nước thành viên. Tuy nhiên, các nước thành viên có thể tạm hoãn áp dụng những quy định này theo các thời hạn được nêu ra trong thông báo. Như vậy, WHO có thể ban hành những quy định y tế quốc tế thực sự trong những lĩnh vực khác nhau (cách ly, danh mục các loại bệnh, chuẩn hóa về mặt sinh học, dược lý, thống kê y tế, vệ sinh thực phẩm).

Ngoài ra, Ủy ban quy chuẩn về thực phẩm (Codex alimentarius được Tổ chức Nông lương của Liên hợp quốc – FAO và WHO thành lập năm 1962) thực hiện chức năng lập quy trong việc định ra các tiêu chuẩn về thực phẩm. Những tiêu chuẩn này là một ví dụ ít có về các tiêu chuẩn y tế và môi trường và được trực tiếp đưa vào hệ thống các tiêu chuẩn thương mại của Tổ chức Thương mại thế giới (thông qua Hiệp định về áp dụng các biện pháp vệ sinh dịch tễ – SPS).

WHO còn đóng vai trò tác nghiệp trong hỗ trợ kỹ thuật và đôi khi là trợ giúp y tế. Trợ giúp y tế được tiến hành dưới hình thức hỗ trợ cho các chương trình mục tiêu về các vấn đề y tế (tiêm chủng, cung cấp nước, bảo vệ bà mẹ).

Hoạt động hỗ trợ kỹ thuật về y tế, một mục tiêu đã được xác định trong Hiến chương của WHO (Điều 2) ngày càng nhận được nhiều tài trợ từ các quỹ ngoài ngân sách của nhiều tổ chức khác nhau với sự giúp đỡ của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) dành cho các chương trình quan trọng nhất (ví dụ như Chương trình hỗn hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS) vào năm 1996). Được đặt vào trọng tâm của WHO, hoạt động này gặp phải những khó khăn rất lớn do thiếu các cơ sở hạ tầng tại các nước đang phát triển, do thiếu tài trợ và do phần lớn các chương trình không được thẩm định hay do sự hợp tác đôi khi kém hiệu quả với UNDP.

WHO cùng tham gia vào các chương trình giáo dục và đào tạo do Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc và Ngân hàng Thế giới cùng tài trợ với vai trò điều phối và thực thi các chương trình có hiệu quả.

Cuối cùng, WHO đóng vai trò điều phối trong hoạt động nghiên cứu và thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền thông tin về y học trên thế giới.

6.3/ Chỉ trích, các cuộc cải cách và những ưu tiên mới

Phong trào khu vực hóa được bắt đầu trong những năm 1970 đã tạo ra những tác động trái ngược. Do thiếu nhân lực cho các văn phòng quốc gia cũng như không có sự giám sát đối với các văn phòng khu vực đã khiến cho hoạt động của WHO quá tập trung vào những vấn đề khu vực (xem báo cáo của Joint Inspection Unit 1993).

Cũng tương tự như vậy, sự độc lập cũng như việc chính trị hóa trong hoạt động của các giám đốc khu vực do các ủy ban khu vực bầu ra theo hình thức bỏ phiếu kín đã ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng hành động của Tổng Giám đốc.

Ngoài cuộc khủng hoảng về vận hành ra còn có khủng hoảng về tính hợp thức xuất phát từ sự khác biệt giữa nhiệm vụ ban đầu và sự thiếu bền vững của các kết quả đạt được, đặc biệt là trong đấu tranh chống dịch bệnh.

Các nước thành viên, đặc biệt là các nước công nghiệp hóa đã bày tỏ sự không hài lòng của mình bằng cách cắt giảm các khoản đóng góp. Dưới sức ép của Mỹ, nước muốn áp dụng hình thức quyền bỏ phiếu tương ứng với mức độ đóng góp đối với các vấn đề ngân sách trong các tổ chức của Liên hợp quốc (Bản sửa đổi Kassebaum, năm 1987), Hội đồng điều hành đã quyết định giao cho Ủy ban lập chương trình quyền xem xét các đề nghị của Tổng Giám đốc về vấn đề ngân sách. Sáng kiến này đương nhiên đã trao quyền giám sát ngân sách cho các nước thành viên có mức đóng góp cao nhất.

Do tác động của các cuộc khủng hoảng nêu trên, WHO không còn là tổ chức duy nhất điều phối trong lĩnh vực y tế. Ngân hàng Thế giới, tổ chức cung cấp tài chính lớn nhất trong lĩnh vực y tế, thậm chí đã soạn thảo hẳn một luận thuyết y tế vào năm 1993 (Ngân hàng Thế giới, 1993).

Trong số những đề xuất cải cách hành chính, ý tưởng tăng cường thẩm quyền của Hội đồng điều hành đối với các vấn đề ngân sách và hành chính, tập trung hoạt động của các văn phòng khu vực vào các nhiệm vụ chuyên môn và các giám đốc khu vực sẽ do Tổng Giám đốc bổ nhiệm, đã được đưa ra. Hai cơ quan giám sát đã được thành lập nhằm nâng cao chất lượng hoạt động lập chương trình, thẩm định và điều phối các hoạt động giữa cấp trung ương và cấp được phân quyền. Tuy nhiên, những khó khăn về mặt cơ cấu cũng chưa phải đã hết.

Việc bổ nhiệm bà Bruntland vào vị trí đứng đầu WHO năm 1998 đã khiến cho hoạt động của Tổ chức này tập trung vào việc chống lại một số đại dịch xoay quanh các chương trình chống bệnh sốt rét, nhiễm độc thuốc lá hay bệnh AIDS.

Trong khuôn khổ này, WHO chú trọng đặc biệt tới vấn đề khả năng tiếp cận thuốc chữa bệnh tại các nước đang phát triển. Do vậy, một mặt, WHO ủng hộ Chương trình nghiên cứu đặc biệt về các bệnh nhiệt đới (Chương trình được sáng lập năm 1975 với UNDP và Ngân hàng Thế giới), và mặt khác thực hiện Chương trình Các loại thuốc chữa bệnh thiết yếu (sáng lập năm 1977) dựa trên sự phát triển một nền công nghiệp quốc gia hay việc sử dụng các loại thuốc phổ thông. Chương trình thuốc chữa bệnh vừa nêu được triển khai trên nền của các cuộc tranh luận gay gắt, nhất là các cuộc tranh luận về khả năng các nước đang phát triển sản xuất các loại thuốc để đối phó với tình hình cực kỳ nguy cấp (dịch AIDS) mà không cần phải trả tiền bản quyền theo như quy định knh donanh các bằng sáng chế quốc tế. Việc Nam Phi hay Brazil nhập từ thị trường tự do thuốc chữa bệnh AIDS vào năm 1997 và Mỹ gửi đơn lên Tổ chức Thương mại thế giới kiện hai nước này vi phạm các quy định về bản quyền, đã làm dấy lên cuộc tranh luận trong đó WHO chỉ là một bên trong số các bên, bên cạnh Ngân hàng Thế giới và Cơ quan điều phối chống AIDS của Liên hợp quốc.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Thomas Boisson – Phân tích toàn cảnh các thiết chế quản trị toàn cầu – NXB CTQG 2003.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s