Trước bước tiến tiềm tàng của Trung Quốc, sự xích lại gần nhau giữa Mỹ và Việt Nam có vẻ là tất yếu. Thực tế, quá trình 20 năm tính từ cột mốc năm 1975, đánh dấu sự ra đi đầy bi thảm của người Mỹ khỏi Sài Gòn là năm 1995, với sự kiện bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ, là một hành trình gây ấn tượng mạnh. Quá trình xích lại gần nhau giữa Việt Nam và Mỹ thường được lý giải bởi một yếu tố duy nhất: Trung Quốc. Tuy nhiên, trước những tiếng nói cất lên từ Mỹ, kêu gọi thúc đẩy quan hệ với Việt Nam, thậm chí thiết lập một quan hệ đồng minh thực sự, cần thiết nhắc lại rằng, châu Á, đặc biệt là Đông Nam Á, ít phù hợp với những “trò chơi được mất ngang nhau” này.

Xét về hoàn cảnh lịch sử, Đông Á là nơi Chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra lâu nhất (từ năm 1937 đến năm 1945), cũng là nơi con người chịu đựng nhiều thiệt thòi khủng khiếp nhất trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, đặc biệt với những cuộc chiến tranh giữa hai miền Triều Tiên và trên bán đảo Đông Dương, và gần đây là những cuộc chiến trong khoảng thời gian 1978 – 1979: Việt Nam can dự vào Campuchia và cuộc chiến Trung – Việt. Sau những cuộc chiến đau thương như vậy, ngày nay, một “nền hòa bình châu Á” dường như đang thắng thế. Nền hòa bình ấy thường được lý giải bởi những quan hệ kinh tế qua lại ngày càng gia tăng, bởi sự duy trì quyền bá chủ của Mỹ – nguồn gốc của trật tự và cân bằng, và bởi những đặc thù ngoại giao mềm dẻo và đa dạng trong khu vực, nhất là với mô hình Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Nền hòa bình châu Á không ngăn cản được sự nổi lên, tại Trung Quốc, những phát biểu về “hệ thống các giá trị truyền thống châu Á”. Ở đây, có một so sánh giữa một bên, sự xâm nhập của phương Tây mang đến chủ nghĩa thực dân và các cuộc chiến tranh; còn bên kia, sự trở lại của cường quốc Trung Hoa sẽ cho phép tái lập trật tự thứ bậc từ quá khứ, ít gây ra xung đột hơn, và không có sự can dự kiểu phương Tây vào các vấn đề nội bộ của các quốc gia. Một trật tự chính đáng sẽ không khiến các “quốc gia nhỏ” phải sử dụng đến chính sách cân bằng kiểu phương Tây. Chúng ta đều biết rằng, trước đây, đòi hỏi bá chủ của Pháp, Đức hay Liên Xô đã đưa các nước khác đến việc liên kết lại với nhau. Trước những thực tế như vậy, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình viện dẫn một “cấu trúc an ninh mới của khu vực”. Như vậy vấn đề ở đây, Trung Quốc và Mỹ cạnh tranh nhau về bản chất của trật tự tại châu Á và về sức mạnh bá chủ đảm bảo trật tự này.

Từ năm 1945 và sau đó là Chiến tranh Triều Tiên năm 1950, trật tự khu vực bị chi phối bởi hệ thống cá nền tảng và quan hệ liên minh song phương với Mỹ. Kinh tế và an ninh gắn kết với nhau, như trường hợp của Nhật Bản, nếu quốc gia này không có một đầu ra là Trung Quốc rộng lớn theo chủ nghĩa cộng sản thì lại có thị trường Mỹ sẵn sàng mở cửa chào đón từ những năm 1950. Cuộc chiến tranh tại Việt Nam đã diễn ra chủ yếu nhằm chứng tỏ độ tin cậy của các liên minh nói trên và cũng để đảm bảo nguồn nguyên liệu và đầu ra cho Nhật Bản. Trong những năm 1980, Việt Nam, quốc gia từng giành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, rồi chống Mỹ, dường như đến lúc phải chịu thất bại vì những nước công nghiệp mới (NIC) trở nên thịnh vượng hơn và rồi sở hữu cả nền dân chủ nữa. Lúc bấy giờ, người Mỹ đã có thể cho rằng sự “hy sinh” của họ ở Việt Nam đã mang tới sự kỳ diệu này vì rằng họ đã dành thời gian cho cá đồng minh của mình phát triển kinh tế và cũng cho thấy phương cách phát triển của họ hiệu quả hơn so với phương pháp của các nước cộng sản chủ nghĩa. Nếu người Mỹ đã lo lắng về sự nổi lên mạnh mẽ của Nhật Bản cũng như sự điều chỉnh của quốc gia này quay về châu Á (năm 1990, kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản sang các nước châu Á vượt qua con số ghi nhận được từ thị trường Mỹ), thì đổi lại người Mỹ cũng có lợi từ phần tiền tích lũy được của người Nhật để vay nợ ở đó và tiếp tục tiêu thụ. Dù nhiều quốc gia trong khu vực đã từng tỏ ra lo lắng, nhưng người Mỹ đã không rời bỏ hay nói khác đi, bỏ rơi Đông Nam Á sau cuộc chiến tại Việt Nam cũng như sau Chiến tranh Lạnh.

Người Mỹ luôn lo sợ bị gạt ra bền lề ở châu Á. Người Mỹ cũng nhìn nhận với sự ngờ vực mọi hình thức hội nhập kinh tế khu vực gợi lại “khối châu Á” của người Nhật vào những năm từ 1931 đến 1945, cũng như cảnh giác với những phát biểu như của Tập Cận Bình kiểu “châu Á là của người châu Á”. Những chiến lược được tranh cãi những năm gần đây tại Mỹ nhằm đương đầu với vũ khí và chiến lược “chống xâm nhập” của Trung Quốc chính là liên quan đến nỗi lo sợ nói trên, nỗi sợ mà ít nhất là không còn vị trí bá chủ nữa, và tồi tệ nhất là bị đẩy ra khỏi châu Á, châu lục đang trở nên cần thiết với sự thịnh vượng và sự duy trì phong cách sống Mỹ. Hơn nữa, Mỹ cho rằng sự có mặt của họ là cần thiết để phản ứng trước những sự rút lui, những căng thẳng mang tính dân tộc chủ nghĩa và họ có mặt để ủng hộ sự phát triển kinh tế. Ví dụ, cần có niềm tin vào một Việt Nam “hướng ra biển”, hòa nhập vào mạng lưới giao thương xuyên quốc gia, chứ không phải trông vào một cường quốc hàng hải chưa bao giờ tồn tại. Những người lạc quan nhất trông chờ vào một “Đại Sài Gòn”, bản sao của Singapore, để đối mặt với Trung Quốc, đối thủ cạnh tranh và áp bức truyền thống của Việt Nam.

Lúc đầu, việc bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ chỉ “cảm tính” trước khi mà những câu chuyện kinh tế và sau nữa là chiến lược, chi phối mối quan hệ song phương. Chính khía cạnh chiến lược của mối quan hệ Việt – Mỹ khiến nhiều ý kiến từ phía “Xứ sở Cờ hoa” kêu gọi thiết lập liên minh với Hà Nội. Tuy vậy, một liên minh như thế ít có khả năng xảy ra.

Từ khía cạnh cảm tính đến vấn đề địa chính trị

Bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ, sự việc từng bị chi phối bởi vấn đề tù nhân và quân nhân mất tích trong chiến tranh (POW.MIA)

Sau cuộc chiến tranh lâu dài và tổn thất nặng nề về con người, nhất là đối với Việt Nam, có thể đã có nhiều cơ hội bình thường hóa sớm quan hệ Việt – Mỹ bị bỏ lỡ. Nhưng cái giá về mặt chính trị cho việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao này là quá cao nếu xét đến việc Mỹ và Trung Quốc từng “trừng phạt” Việt Nam vì đã “đưa quân vào” Campuchia năm 1979 và xem như là đồng minh của Moskva. Trong những năm 1980, người Mỹ còn cho rằng họ mới là nạn nhân thực sự của cuộc chiến tranh tại Việt Nam và nhất là phải vinh danh những cựu binh Mỹ. Năm 1991, Quốc hội Mỹ còn ra phán quyết rằng lá cờ hiệu màu đen của Liên đoàn quốc gia các gia đình tù nhân chiến tranh và quân nhất mất tích (POW/MIA) phải được treo lên các tòa nhà công quyền. Với sự việc này, Mỹ tố cáo sự “phản trắc và bạo tàn” của cộng sản và biện bạch cho chiến tranh khi nhìn về quá khứ.

Sau khi tuyên bố rằng “hội chứng Việt Nam” đã hoàn toàn biến mất trước thắng lợi của cuộc chiến vùng Vịnh, Tổng thống Mỹ George H.W. Bush đã vạch ra một kế hoạch nhằm bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Nhưng ông đã bị công kích về vấn đề POW/MIA, điều này cũng phần nào dẫn đến thất bại của ông trong kỳ bầu cử tổng thống vào tháng 11/1992. Đến thời Tổng thống Clinton, ông cho rằng việc dỡ bỏ cấm vận cho phép mang lại những thông tin tình báo về việc không còn một tù nhân chiến tranh Mỹ nào nữa ở Việt Nam. Ngược lại, có những thông tin cho thấy có vấn đề buôn bái hài cốt của những quân nhân mất tích trong chiến tranh, và trong số đó có hài cốt giả. Chính quyền Mỹ thấy có trách nhiệm hồi hương hài cốt các lính Mỹ còn lại tại Việt Nam và đã đàm phán với Hà Nội về việc tìm kiếm hài cốt lính Mỹ trong các vùng đất chưa được tính đến trước đây. Đại sứ quán Mỹ mở cửa tại Hà Nội vào năm 1997 và vị đại sứ đầu tiên nhậm chức lúc đó là Douglass Peterson, người từng là tù nhân chiến trnah. Tiếp đó Tổng lãnh sự quán Mỹ được mở tại thành phố HCM vào năm 1999. Một năm sau, Tổng thống Mỹ Bill Clinton thăm Việt Nam. Ký ức cuộc chiến tranh tại Việt Nam dần bớt nặng nề: những Tổng thống Mỹ như Bill Clinton và George W. Bush tránh việc làm nặng vấn đề cuộc chiến và một số “vị anh hùng” cũng bị đẩy xa ra khỏi vấn đề, như cựu quân nhân John Kerry, giờ đã trở thành người phản đối chiến tranh, hay một tù nhân khác là John McCain. Xích lại gần nahu vì vấn đề thương mại, vấn đề bình thường hóa quan hệ ngoại giao và xích lại gần nhau giữa hai nước có những logic riêng của nó. Những vấn đề này không gắn với một cách nhìn hay một chiến lược đặc biệt nào đối với châu Á. Về phía Việt Nam, quốc gia này giữ việc cungc ấp thông tin với Trung Quốc về quan hệ với Mỹ để tránh Bắc Kinh gán cho việc bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ một suy diễn mang tính chiến lược. Cấm vận kinh tế nước này với Việt Nam chấm dứt vào năm 1994. Việt Nam được hưởng quy chế tối huệ quốc vào năm 2001. Mỹ tạo điều kiện để Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007. Về phía Mỹ, việc các doanh nghiệp lớn của Mỹ vận động hành lang cho vấn đề phát triển thương mại Việt – Mỹ đóng vai trò quan trọng trong khi những tổ chức bảo vệ nhân quyền lại làm trì hoãn việc phê chuẩn hiệp định thương mại song phương. Về phía Việt Nam, việc đàm phán hiệp định nói trên đã làm dấy lên những căng thẳng nội tại, “phá khóa” bảo thủ và quân sự, vốn từng bị đóng chặt lại trong hai năm 1998 – 1999 và mở đường cho việc gia nhập WTO. Dần dần, Mỹ trở thành một đối tác kinh tế chủ chốt của Việt Nam. Hiện nay chỉ còn vấn đề đàm phán Hiệp định đầu tư song phong, Hà Nội mong muốn thoát khỏi cái mác “không có nền kinh tế thị trường” trong khi Trung Quốc vẫn là một quốc gia trong số đó, được thụ hưởng Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (1994) và Đạo luật thương mại năm 1974.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Herodote (Pháp) – số 157

TLTKĐB – 21 & 22/05/2016

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s