III/ Sơ lược về sự hợp tác giữa các thiết chế quản trị toàn cầu

Cơ sở lý luận khẳng định sự cần thiết phải có sự phối hợp giữa các tổ chức quốc tế chính là việc nhận thức được tác động ảnh hưởng trong hoạt động của một tổ chức đến những mục tiêu trong chính sách kinh tế của một tổ chức khác. Sự hợp tác hẳn sẽ cho phép nội nhập những hiện tượng ngoại ứng này như đối với trường hợp hợp tác trong chính sách kinh tế giữa các nước.

Thông qua ba ví dụ, chúng ta sẽ thử minh họa khó khăn của việc triển khai ý tưởng phối hợp này dù là giữa các tổ chức cùng chung một không gian thể chế (Quỹ Tiền tệ quốc tế và Ngân hàng Thế giới) hay giữa các định chế có nguyên tắc và phương thức hoạt động khác nhau (các định chế Bretton Woods và WTO) hay theo đuổi những tiêu chuẩn có thể mâu thuẫn với nhau (WTO và ILO, WTO và các định chế về môi trường).

1/ Mối quan hệ giữa WB và IMF

Sự tùy thuộc lẫn nhau giữa tính ổn định kinh tế vĩ mô và những cải cách cơ cấu kinh tế vi mô đã khiến Ngân hàng Thế giới triển khai các chương trình điều chỉnh cơ cấu bao hàm cả những điều kiện ổn định kinh tế vĩ mô, còn IMF lại phải tính đến sự cần thiết phải có những cải cách kinh tế vĩ mô và xã hội về trung hạn.

Thẩm quyền trùng lặp như thế đã làm nảy sinh những vấn đề đặc thù (điều kiện kép) đôi khi cũng ít nhiều gây ra tình trạng thiếu nhất quán. Ví dụ, Ngân hàng Thế giới vào năm 1988 đã hỗ trợ Argentina với những điều kiện mà theo IMF có thể khiến nước này lẩn tránh việc tiến hành những cải cách cần thiết cho trung hạn.

Nhiều sáng kiến khác nhau đã được đưa ra nhằm tìm cách khắc phục tình trạng này. Cụ thể, việc đề ra các công cụ điều chỉnh cơ cấu vào năm 1986 và công cụ điều chỉnh cơ cấu tăng cường vào năm 1988 đã tạo ra một khuôn khổ hành động chung mang tính nhất quán cả trên phương diện cung cấp tài chính lẫn trên phương diện các lĩnh vực điều chỉnh.

Tuy nhiên, IMF đã phải từ bỏ việc đề ra những tiêu chí rõ ràng về tăng trưởng kinh tế vì phải tập trung vào vấn đề ổn định kinh tế vĩ mô, còn Ngân hàng Thế giới do không có được kinh nghiệm của IMF trong lĩnh vực này nên đã tập trung vào các chiến lược phát triển và các vấn đề kinh tế ngành. Một thỏa thuận chính thức giữa hai định chế (được biết dưới cái tên “Concordat”) vào năm 1989 đã đưa đến sự hợp tác cả trên thực địa lẫn tại Washington. Thỏa thuận quy định việc giải ngân một số khoản tín dụng của Ngân hàng Thế giới phải được IMF xét duyệt khi IMF thẩm định được khả năng thành đạt kinh tế của nước thụ hưởng. Đây chính là sự thừa nhận vai trò chỉ đạo của IMF trong các can thiệp nhằm vào kinh tế vĩ mô.

Về mảng tài chính, sự hợp tác chặt chẽ hơn từ tháng 9 năm 1998 tạo điều kiện cho hai định chế cùng khai thác các năng lực thẩm định trong khuôn khổ Ủy ban Liên lạc trong lĩnh vực tài chính. Ủy ban này ban đầu được thành lập là để xử lý cuộc khủng hoảng tài chính châu Á.

Cuối cùng, việc soạn thảo từ tháng 12 năm 1999 các Tài liệu khung về chính sách kinh tế (PFP) trong Khung chiến lược và giảm nghèo (PRSPs) hẳn sẽ cho phép các hệ quả xã hội của việc điều chỉnh kinh tế vĩ mô được quan tâm thỏa đáng hơn.

Tuy nhiên, sự ganh đua giữa hai định chế vẫn còn mạnh do những khác biệt về văn hóa lẫn về học thuyết giữa hai tổ chức này (Quốc hội, 2000).

2/ Hợp tác giữa WTO và IMF/WB

Trong khi nhiều chương trình mà IMF vàWB đưa ra tác động mạnh đến chính sách thương mại của các quốc gia vay tiền, sự hợp tác chính thức giữa GATT và các định chế Bretton Woods còn hạn chế trong những năm 1980. Mối quan hệ giữa IMF và GATT chủ yếu dựa trên Điều XV của Hiệp ước GATT năm 1947. Theo quy định tại điều này, các thành viên của GATT phải hợp tác với IMF trong trường hợp các biện pháp hạn chế hối đoái nhằm giải quyết vấn đề cán cân thanh toán mâu thuẫn với các chuẩn mực thương mại và phải chấp nhận những khuyến nghị của IMF. Do không có một cơ sở tương tự cho hợp tác giữa GATT và Ngân hàng Thế giới, mối quan hệ giữa hai tổ chức này đã phát triển theo cách không chính thức.

Tại Vòng đàm phán Uruguay, đã có những đề xuất được đưa ra nhằm khắc phục sự thiếu nhất quán giữa các chính sách thương mại và các chính sách điều chỉnh cơ cấu. Thực vậy, một mặt tâm lý lo ngại ngân sách bị thâm hụt do quá trình tự do hóa thương mại thường được viện dẫn để hạn chế những tham vọng thể hiện trong các chương trình của Ngân hàng Thế giới và IMF. Mặt khác, những khó khăn về cán cân thanh toán cũng có thể là một lý do khiến cho quá trình tự do hóa thương mại phải chậm lại.

Được đề cập trong Điều lệ của WTO năm 1995, việc cải thiện mối quan hệ chính thức giữa GATT và các định chế Bretton Woods tiến hành theo hai phương thức.

Trước hết, hai thỏa thuận hợp tác được WTO ký với IMF và WB nhân dịp Hội nghị Bộ trưởng tại Singapore vào tháng 12 năm 1996 đã cho phép các quan chức của WTO được tham dự vào các buổi họp Hội đồng quản trị của các định chế Bretton Woods vốn không chấp nhận sự tham gia của mọi tổ chức quốc tế khác ngoại trừ Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), và đổi lại cũng cho phép quan chức của các định chế này được tham gia vào phần lớn các cơ quan của WTO trong đó có Cơ quan Giải quyết tranh chấp. Các thỏa thuận cũng đề cập đến những nỗ lực chung trong nghiên cứu và trợ giúp kỹ thuật nhằm đề ra các tiêu chuẩn thương mại trong các nước đang phát triển.

Tuân thủ theo những định hướng này, Khung tổng hợp trợ giúp kỹ thuật trong lĩnh vực thương mại cho các nước chậm phát triển nhất đã được triển khai vào năm 1997. Chương trình này do WB điều phối và quy tụ cả Hội nghị của Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), IMF, WTO và UNDP. Mục tiêu của nó là đưa khía cạnh thương mại vào trong các chính sách về phát triển và từ năm 1999 dựa vào những công cụ của Khung chiến lược về giảm nghèo.

Tuy nhiên, những phương tiện hạn hẹp được giao cho Ban thư ký của WTO (cơ quan này có chức năng triển khai những quyền và nghĩa vụ mà các quốc gia thành viên cam kết) đã hạn chế đáng kể những cơ hội hợp tác thực sự với IMF và WB (Blackhurst, 1998).

Phương thức thứ hai hướng vào việc xác định các chính sách nhất quán và tương thích với cả hai bên. Khả năng dành cho một số nước các khoản tín dụng điều chỉnh cơ cấu để đổi lại việc tự do hóa chính sách thương mại của các nước đó theo tiêu chuẩn WTO đang được xem xét.

3/ Hợp tác giữa các định chế trong lĩnh vực thương mại, môi trường và lao động

3.1/ Những vấn đề chung liên quan đến các cuộc tranh luận về thương mại – môi trường và thương mại – lao động

WTO quan tâm đến các vấn đề liên quan đến môi trường và điều kiện lao động:

+ Khi các biện pháp phi thương mại của các quốc gia có ảnh hưởng đến thương mại quốc tế hay được áp dụng bằng biện pháp đơn phương hạn chế thương mại;

+ Khi khuôn khổ thương mại đa phương được sử dụng để trừng phạt việc không tuân thủ một số tiêu chuẩn môi trường và xã hội;

+ Cuối cùng là khi WTO tham gia với tư cách là mô hình định chế và thủ tục trong việc dân chủ hóa và tái cân bằng cơ cấu các định chế toàn cầu.

Cuộc tranh luận về mối quan hệ giữa thương mại và môi trường, đặc biệt sinh động qua việc giải quyết một vụ tranh chấp giữa Mỹ và Mexico liên quan đến đánh bắt cá ngừ trong khuôn khổ GATT, đã đưa đến hai kết quả quan trọng sau Vòng đàm phán Uruguay: đưa khái niệm phát triển bền vững vào trong phần mở đầu của cá hiệp ước thành lập của WTO và thành lập Ủy ban Thương mại và Phát triển trong WTO.

Trái lại, cuộc tranh luận đã có từ lâu về sự cần thiết phải làm cho các quy tắc về thương mại quốc tế tương đồng với mức độ công bằng cao hơn trong các quan hệ lao động bằng cách đưa vào Điều lệ của WTO một điều khoản xã hội lại vấp phải sự phản đối của phần lớn các nước đang phát triển.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Thomas Boisson – Phân tích toàn cảnh các thiết chế quản trị toàn cầu – NXB CTQG 2003.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s