Thu nhập và giáo dục

Những chính trị gia tạo nên khung Hiến pháp đã nghĩ rằng phần lớn những cuộc xung đột chính trị kéo dài sẽ khiến người nghèo đi đến chống lại người giàu. Những cuộc khảo sát tìm thấy rất nhiều bằng chứng cho thấy rằng quan điểm thường khác nhau trong các tầng lớp thu nhập, nhưng những khác biệt này là không đáng kể so với những khác biệt ở hầu hết các quốc gia công nghiệp hiện đại khác. Những người có thu nhập thấp hơn thường có xu hướng lớn hơn trong việc ủng hộ chi tiêu cho các dịch vụ chính quyền có ích cho những người như họ: An sinh xã hội, tiền vay cho sinh viên, tem phiếu thực phẩm, chăm sóc trẻ em và giúp đỡ người vô gia cư. Những người có thu nhập cao hơn rõ ràng là kém nhiệt tình hơn với việc chi tiêu của chính phủ dành cho các chương trình xã hội hay đánh thuế cao hơn đối với các mức thu nhập cao hơn. Tư lợi kinh tế dễ dàng giải thích cho những khác biệt này: những người nhận được nhiều lợi ích hơn có xu hướng nhìn thấy giá trị cao hơn trong các chương trình xã hội so với những người chú ý nhiều hơn đến các chi phí.

Tuy nhiên, về những vấn đề phi kinh tế, các nhóm có thu nhập cao hơn thường có quan điểm tự do hơn so với các nhóm có thu nhập thấp hơn. Sự khác biệt này liên quan đến giáo dục nhiều hơn là đến thu nhập. Những người thuộc các nhóm thu nhập cao hơn thường có số năm học tập chính thức cao hơn, và mọi người có trình độ giáo dục càng cao, thì càng nhiều khả năng họ có lập trường tự do về những vấn đề như nạo phá thai, quyền của người đồng tính, bình đẳng giới, tự do ngôn luận và quyền của nhóm thiểu số.

Tôn giáo

Tôn giáo đã đóng một vai trò quan trọng trong đời sống chính trị Mỹ kể từ ngày tìm ra những vùng thuộc địa đầu tiên. Một đa số lớn người Mỹ nhận là mình thuộc về một tôn giáo, và số người trực thuộc tôn giáo đông hơn so với số người trực thuộc bất kỳ tổ chức nào khác. Đức tin tôn giáo hình thành nên các giá trị, bao gồm nhiều trong số những giá trị mà mọi người mưu cầu thông qua hành động chính trị. Các phong trào nhằm xóa bỏ chế độ nô lệ, cấm rượu cồn, mở rộng quyền công dân cho người Mỹ gốc Phi, và chấm dứt cuộc chiến ở Việt Nam, và cả cấm nạo phá thai nữa, tất cả đều liên hệ mạnh mẽ đến các lý tưởng tôn giáo.

Những khác biệt về đức tin tôn giáo thường tạo cơ sở cho những khác biệt trong quan điểm chính trị. Không có gì ngạc nhiên khi các đức tin tôn giáo ảnh hưởng đến quan điểm về nhiều vấn đề xã hội hơn so với các vấn đề kinh tế. Những người thế tục (không theo tôn giáo nào), người Do Thái, hay các thành viên của một trong số cái mà các học giả gọi là các phái hệ Tin lành chính thống như Episcopalia, Presbyteria và Giáo đoàn, thường có thiên hướng tự do hơn về các vấn đề xã hội. Những người Tin lành Phúc âm, như phái Rửa tội miền Nam và phái Hạ trần, thường có xu hướng bảo thủ hơn. Những người Thiên chúa giáo La Mã, những người tạo nên một nhánh đơn nhất lớn nhất, lại nằm giữa hai thái cực, nhưng đấy chỉ là xét trung bình; một loạt rộng lớn những quan điểm xã hội khác nhau được ủng hộ bởi các tổ chức khác nhau trong phạm vi Giáo hội Thiên chúa giáo. Dù có thuộc về tôn giáo nào, thì càng tích cực trong đời sống tôn giáo, người ta thường có khả năng bảo thủ hơn về mặt xã hội.

Bắt đầu với chính quyền Reagan, Đảng Cộng hòa đã có một nỗ lực thận trọng nhằm giành được sự ủng hộ của những người Tin lành Phúc âm và những người bảo thủ tôn giáo khác, với mức độ thành công rất đáng ghi nhận. Mặc dù xét tổng thể thì đất nước này có sự chia rẽ giữa Bush và Gore vào năm 2000, song các cử tri da trắng thuộc cánh hữu tôn giáo đã hướng về phía Bush, với tỷ lệ 80% trên 18%. Nhận thức được thực tế này, cuộc vận động tái tranh cử tổng thống năm 2004 của Bush đã có một nỗ lực đặc biệt nhằm tổ chức các đợt bòn rút lá phiếu thông qua các nhà thờ của họ. Những người bảo thủ Cơ đốc giáo đã trở thành một thành tố đông đảo và tích cực trong liên minh Đảng Cộng hòa đến mức giờ đây họ thống trị tổ chức đảng ở nhiều bang. Nguy cơ đối với đảng này là ở chỗ sự thống trị áp đảo của nó có thể làm cho nhiều người tự do về mặt xã hội, có giáo dục và giàu có trở nên xa lánh; những người này bị thu hút chủ yếu nhờ các chính sách kinh tế của Đảng Cộng hòa.

Những chia rẽ về nhân khẩu khác

Những chia rẽ về nhân khẩu khác trong quan điểm cũng cần được xem xét. Những cử tri trẻ tuổi hơn thường có xu hướng tự do hơn so với những người cao tuổi về các vấn đề xã hội và kinh tế; chẳng hạn, họ có tỷ lệ ủng hộ cao hơn đối với hôn nhân của người đồng tính. Các cư dân thành phố thường có uqan điểm tự do hơn so với những người dân sống ở các vùng ngoại ô, tỉnh lẻ và nông htôn. Những người sống gần bờ biển hay ở vùng Thượng Trung Tây có xu hướng tự do hơn so với những người sống ở miền Nam, các vùng bình nguyên hay các bang miền núi, đặc biệt là về các vấn đề văn hóa. Sự phân hóa trong đó – bang xanh thể hiện rõ những cuộc bầu cử năm 2000 và 2004 phản ánh sự chia rẽ theo vùng dựa vào văn hóa này. Những người miền Nam đã từng đứng ngoài cuộc hoàn toàn trước phần còn lại của dân chúng trong việc chống đối việc hòa nhập chủng tộc, nhưng sự khác biệt này đã hầu như hoàn toàn biến mất.

Những khác biệt về quan điểm trong các nhóm xã hội lớn thường tạo nên một nguồn vật liệu cho nền chính trị bầu cử. Những ứng cử viên và đảng phái đang cố gắng thắng cử thường không có sự lựa chọn nào khác ngoài hợp lại với nhau thành các liên minh từ những nguyên vật liệu có trong tay. Những cử tri giàu có hơn có xu hướng là những người bảo thủ về kinh tế nhưng lại tự do về mặt xã hội; những cử tri có thu nhập khiêm tốn hơn thường kết hợp chủ nghĩa tự do kinh tế với chủ nghĩa bảo thủ xã hội. Các vấn đề xã hội đã đem lại cho những người Cộng hòa một cái nêm để chia tách liên minh Dân chủ bằng cách quyến rũ xu hướng bảo thủ xã hội của những cử tri mà, về những vấn đề kinh tế, suy nghĩ giống với những người Dân chủ. Và các đảng viên Dân chủ đã chống lại bằng cách sử dụng những vấn đề như quyền nạo phá thai và kiểm soát súng để dụ dỗ những cử tri có trình độ giáo dục cao (đặc biệt là phụ nữ), những người mà lợi ích kinh tế đã đặt họ gần hơn với Đảng Cộng hòa. Bởi vì số cử tri có thu nhập khiêm tốn thường đông hơn so với số cử tri có thu nhập dư giả, nên các ứng cử viên Dân chủ thường ưa thích những chiến dịch nhằm vào các vấn đề kinh tế, trong khi các ứng cử viên Cộng hòa lại muốn nói về “các giá trị gia đình” cũng như luật pháp và trật tự.

Công luận: Một thành phần không thể thiếu trong nền chính trị Mỹ

Mạng lưới rộng lớn các tổ chức tham gia vào việc đo lường hay cố gắng gây ảnh hưởng đến công luận đã khẳng định ảnh hưởng quan trọng của nó trong đời sống chính trị Mỹ. Những sự phức tạp của mạng lưới này cũng làm cơ sở cho thực tế rằng sự ảnh hưởng của công luận hiếm khi là đơn giản và không có yếu tố trung gian. Các quan điểm cá nhân chỉ trở thành công luận khi được xét tổng thể, và các tổ chức và nhà lãnh đạo làm công việc gộp tổng thể. Các tổ chức thăm dò quan điểm thường tiết lộ và biểu thị công luận đúng như những gì họ đo lường được. Các chính trị gia và người vận động chính sách khác thường mang lại cho nó hình dạng, tiêu điểm và sức mạnh thông qua các nỗ lực của họ nhằm thuyết phục và kích thích công dân củng hộ cho sự nghiệp của mình. Các phương tiện thông tin đại chúng thường đưa tin và diễn giải những trải nghiệm chính trị chung tạo nên cơ sở vật chất chung cho quan điểm cá nhân. Mặc dù bắt nguồn từ những giá trị và sự trải nghiệm cá nhân, song các quan điểm cá nhân vừa được định hình lại vừa được thể hiện thông qua các nhà lãnh đạo và các thể chế.

Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo và các thể chế không kiểm soat công luận. Mọi người thường chọn nhà lãnh đạo để theo và chọn những thông điệp để đưa ra tương ứng theo những giá trị và niềm tin mà họ tích lũy được trong suốt quãng đời của mình. Đánh giá của họ về các đảng phái, vấn đề, ứng cử viên, và các hiện tượng chính trị khác, xuất phát từ những quan sát cá nhân và trải nghiệm cuộc sống cũng như từ gia đình và bạn bè, giữ lại một thành phần thực tế quan trọng, phản ánh các mối quan tâm và nhu cầu thực tế. Đối với hầu hết mọi người, định hướng chính trị cơ bản, dù là những phản ánh về ý thức hệ, một số giá trị cốt lõi hay đơn giản là những khuynh hướng đảng phái, đều chống lại sự thay đổi. Nguồn nguyên vật liệu cá nhân được dùng để xây dựng công luận không phải là dễ uốn nắn, và vì vậy không thể là quan điểm tổng thể. Các ứng cử viên, nhà vận động chính sách và bất kỳ người nào khác có mục tiêu chính trị liên quan đến sự ủng hộ của công chúng (hay ít ra là sự bằng lòng) đều không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải hoạt động trong khuôn khổ những hạn chế mạnh mẽ, nhưng mờ mịt, được áp đặt bởi thái độ của công chúng. Họ thành công, nếu có, bằng cách tạo khung cho sự lựa chọn hơn là bằng cách thay đổi lối suy nghĩ.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s