Ngoài ra, những mối quan tâm này cũng đã phần nào được đưa vào các hiệp định GATT năm 1994 qua việc cho phép các nước thành viên WTO, khi thỏa mãn một số điều kiện, được áp dụng các biện pháp ngoại lệ so với các tiêu chuẩn thương mại (Điều XX) nhằm bảo vệ tính mạng và sức khỏe con người hay bảo vệ động vật và thực vận (khoản b), nhằm bảo tồn những nguồn tài nguyên hữu hạn (khoản g) hay nhằm ngăn cấm việc buôn bán các sản phẩm được sản xuất trong nhà tù (khoản e). Việc thực hiện Điều XX này được quy định cụ thể trong Hiệp định về áp dụng các biện pháp vệ sinh dịch tễ (Hiệp định SPS) cũng như Hiệp định về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại.

Tuy nhiên, cả thẩm quyển pháp lý lẫn tính hợp thức của WTO trong việc điều chỉnh khả năng sử dụng các biện pháp thương mại xuất phát từ những vấn đề phi thương mại vẫn chưa được xác lập rõ ràng (Ward, 1996).

Thực vậy, chỉ có các thành viên của WTO (có đại diện trong Hội nghị Bộ trưởng và Đại hội đồng) mới có thể quyết định mở rộng thẩm quyền của Cơ quan Giải quyết tranh chấp ra ngoài việc đơn thuần điều chỉnh các hạn chế thương mại nhằm góp phần đạt những mục tiêu của chính sách kinh tế. Vả lại, Cơ quan Giải quyết tranh chấp không có tư cách cho phép đơn phương áp dụng việc trừng phạt thương mại vì một mục tiêu phi thương mại, đặc biệt do tính hiệu quả của những biện pháp trừng phạt không giống nhau đối với những quốc gia có quy mô khác nhau. Muốn khắc phục được trở ngại này thì phải tính đến khả năng các biện pháp trừng phạt được quyết định và áp dụng trên cơ sở đa phương chẳng hạn.

3.2/ Thương mại – môi trường

Còn nhiều khiếm khuyết lại không có một tổ chức có cơ cấu chặt chẽ như WTO, hệ thống các định chế trong lĩnh vực môi trường tuy nhiên cũng có một số hiệp định đa phương về môi trường quy định những thủ tục thực hiện khá hiệu quả (đặc biệt là Nghị định thư Montréal về các chất phá hủy tầng ôzôn và Công ước về buôn bán các loài động thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng – CITES). Một số chế định trong đó có sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại.

Tương tự, Nghị định thư Kyoto, mà nội dung có thể sẽ được trình bày lại dưới một hình thức khác sau khi Mỹ từ chối phê chuẩn, quy định những biện pháp trong nước nhằm hạn chế khí thải. Một số biện pháp trong đó (thuế, trợ cấp) có thể không phù hợp với những tiêu chuẩn hiện hành của WTO (Sampson, 2000).

Về vấn đề này, thông cáo của nhóm G8 tại Cologne vào tháng 6 năm 1999 cũng như những cuộc tranh luận diễn ra trong Ủy ban Thương mại và Môi trường đã phản ánh tính thiếu nhất quán tiềm tàng giữa hai hệ thống tiêu chuẩn này.

Thực vậy, việcphân tích án lệ gần đây của Cơ quan Giải quyết tranh chấp (Ward, 1996) cho thấy rằng việc phân biệt đối xử về điều tiết đối với các sản phẩm (thuế, trợ cấp) dựa trên các yếu tố trong quy trình sản xuất được sử dụng trong khuôn khổ bảo vệ môi trường có thể không phù hợp với các quy định của WTO vốn chỉ cho phép trong trường hợp ngoại lệ (Điều XX) các biện pháp phân biệt đối xử được áp dụng cho hàng hóa và phương pháp sản xuất ra chúng.

Những trở ngại trên có thể sẽ không còn nếu chúng ta xem xét án lệ với con mắt thoáng hơn, với điều kiện là những biện pháp mà chúng ta nói đến phải tuân thủ một số tiêu chí, chủ yếu được quy định bởi việc sử dụng các công cụ kiểm tra tính cần thiết theo án lệ (Ward, 1996).

Tuy nhiên vẫn còn tồn tại những khó khăn liên quan đến việc liệu Cơ quan Giải quyết tranh chấp có đủ tư cách để đề ra các tiêu chuẩn về môi trường và áp dụng chúng hay không.

Trước hết, một quốc gia thành viên của WTO nhưng không tham gia một hiệp định đa phương về môi trường thì theo nguyên tắc hủ quyền sẽ không phải chấp nhận các biện pháp về môi trường có tác động vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ do một quốc gia khác áp đặt trong khuôn khổ WTO, khi bản hiệp ước có liên quan chưa được một số lượng đủ lớn các quốc gia phê chuẩn.

Tiếp nữa, các thành viên WTO tham gia vào các cuộc thảo luận của Ủy ban Thương mại và Môi trường đã từ chối việc biến WTO thành một cơ quan điều tiết được phép phán xử các vụ tranh chấp thuần túy mang tính môi trường và muốn rằng việc thẩm định kỹ thuật về các vấn đề môi trường được tập trung vào các hiệp định đa phương về môi trường.

Những đề xuất được đưa ra, trong khuôn khổ Ủy ban Thương mại và Môi trường, nhằm giải quyết những khó khăn trên đi theo ba hướng (Sampson, 2000):

Hướng thứ nhất là tạo ra một “cửa sổ môi trường” cho WTO mà cụ thể là áp dụng một quan điểm mềm dẻo hơn khi vận dụng các quy định của WTO để xử lý một số biện pháp được áp dụng theo một hiệp định đa phương về môi trường. Cụ thể, các thành viên của WTO có thể sửa đổi Điều lệ của WTO để chính thức hóa các tiêu chí (ví dụ như đồng thuận đạt được khi thông qua một hiệp định đa phương về môi trường) làm cơ sở cho việc Cơ quan Giải quyết tranh chấp quyết định tính cần thiết của các biện pháp phải xem xét. Mặt trái của hướng đi này là có khả năng không đi đến được đồng thuận khi thảo luận các hiệp định đa phương về môi trường.

Hướng thứ hai là khi có tranh chấp về một biện pháp môi trường thì sẽ quyết định bằng đa số với 3/4 phiếu biểu quyết của các nước thành viên WTO để tạm thời chấp nhận một trường hợp ngoại lệ (waiver) so với các quy định của WTO. Tuy nhiên, giả pháp này buộc các nước thành viên của WTO đánh giá các hệ thống tiêu chuẩn khác nên cũng đặt ra những vấn đề liên quan đến an toàn pháp lý.

Hướng thứ ba là tăng cường các thủ tục giải quyết bất đồng trong các hiệp định đa phương về môi trường nhằm duy trì được thế cân bằng và các thẩm quyền riêng của từng cơ quan thương mại và môi trường, mà vẫn chú ý để các biện pháp thương mại không nằm trong phạm vi của các hiệp định đa phương về môi trường vẫn được xử lý trong khuôn khổ Cơ quan Giải quyết tranh chấp trên cơ sở các tiêu chí thủ tục và thực chất đã được các thành viên của WTO thông qua. Dựa trên việc bổ sung ngày càng nhiều án lệ cho cả đôi bên, đề xuất này không giải quyết được vấn đề mất cân bằng về mặt thể chế giữa hai hệ thống này.

Các giải pháp này chủ trương cải cách từng bước cơ cấu thể chế dựa trên những cơ chế chủ yếu theo án lệ. Nhưng cũng có một số ý kiến đi xa hơn qua việc đề xuất tái cân bằng cơ cấu hiện có như thành lập một tổ chức toàn cầu về môi trường (Bureau, Daveu và Gastaldo, 2001 và Esty, 1999).

3.3/ Thương mại và việc làm

Cuộc tranh luận về mối liên hệ giữa tự do hóa thương mại và điều kiện lao động luôn chia các nước thành hai nhóm đối nghịch. Một bên là các nước công nghiệp mong muốn duy trì các tiêu chuẩn lao động đang được áp dụng ở nước mình và khuyến khích việc áp dụng tiêu chuẩn này tại các nước đang phát triển. Các nước này muốn qua đó ngăn chặn việc các tiêu chuẩn xã hội không được áp dụng hay chỉ áp dụng các tiêu chuẩn thấp hơn sẽ cho phép các nước đang phát triển nâng cao tính cạnh tranh thương mại của mình một cách giả tạo khi xuất khẩu (phá gia qua yếu tố xã hội). Còn bên kia là các nước đang phát triển không chấp nhận việc thiết lập các tiêu chuẩn lao động quốc tế như cái cớ để các nước công nghiệp bảo vệ một số ngành công nghiệp của mình chịu sức ép mạnh nhất của cạnh tranh trong những lĩnh vực mà giá nhân công là một yếu tố quan trọng quyết định tính cạnh tranh.

Khác với lĩnh vực môi trường, lĩnh vực lao động có một tổ chức quốc tế chịu trách nhiệm xúc tiến các tiêu chuẩn. Nhưng cơ chế giám định ba bên của các công ước được đàm phán dưới sự chủ trì của ILO trên cơ sở thuyết phục và chấp thuận tự nguyện không cho phép đề ra các biện pháp chế tài hiệu quả đối với việc không tuân thủ các tiêu chuẩn xã hội. Chính vì thế, các cuộc thảo luận thường tập trung đến triển vọng đưa thêm vào Điều lệ của WTO một điều khoản xã hội buộc các nước tham gia WTO phải tôn trọng một số tiêu chuẩn tối thiểu theo tinh thần các công ước của ILO và quy định các biện pháp trừng phạt thương mại đối với những quốc gia không tuân thủ cáctiêu chuẩn này.

Ngoài sự phản đối thẳng thừng của một số nước đang phát triển trước sáng kiến này,biện pháp trên còn làm nảysinh những vấn đề cơ bản khi áp dụng (Ward, 1996).

Cuối cùng, Tuyên bố của Hội nghị Bộ trưởng tại Singapore (ngày 13 tháng 12 năm 1996) phác họa ra triển vọng hợp tác nhìn chung còn hạn chế. Thực tế các nước thành viên đã khẳng định vào dịp này rằng WTO cam kết tôn trọng các tiêu chuẩn lao động cơ bản và nhấn mạnh đến việc cần phải cải thiện sự cộng tác giữa WTO và ILO, nhưng đồng thời cũng lại tuyên bố rằng ILO là tổ chức duy nhất có thẩm quyền trong việc đề ra và quản lý các tiêu chuẩn này và bác bỏ việc sử dụng các tiêu chuẩn đó nhằm mục đích bảo hộ, và đồng thời cũng mong muốn duy trì lợi thế so sánh của các nước đang phát triển. Hội nghị Doha (tháng 1 năm 2001) cũng không đạt được bước tiến đáng kể nào hơn trong lĩnh vực này.

Những đề xuất thường thấy là theo hướng cải thiện sự hợp tác theo chiều ngang giữa WTO và ILO, và gợi ý chẳng hạn việc xác lập một thủ tục cho phép phát hiện các trường hợp vi phạm một số tiêu chuẩn quốc tế về lao động được thừa nhận trong Điều 26 của Điều lệ ILO và tiếp đó chuyển vụ việc sang để WTO xử lý trong bước trừng phạt thương mại.

Một số đề xuất khác lại chú trọng đến việc hình thành một sự hợp tác tốt hơn theo chiều dọc giữa một bên là WTO và ILO và một bên là một số tổ chức khu vực theo mô hình thủ tục giám sát hiện có trong Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ – NAFTA. Thỏa thuận này quy định một trình tự thủ tục nhằm thông qua trừng phạt kinh tế và tài chính để hạn chế việc vi phạm những quyền cơ bản của người lao động trên cơ sở tiêu chuẩn hiện hành tại mỗi nước mà không đề ra các tiêu chuẩn cơ bản áp dụng cho tất cả các bên. Giải pháp này dung hòa được cả vấn đề quy chế trong lao động lẫn vấn đề duy trì lợi thế so sánh tại các nước đang phát triển (trường hợp Mexico trong NAFTA). Đó là hướng đi có vẻ phù hợp với tính kém đồng nhất của các tiêu chuẩn xã hội trên phạm vi toàn cầu (Vellano, 1998).

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Thomas Boisson – Phân tích toàn cảnh các thiết chế quản trị toàn cầu – NXB CTQG 2003.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s