Mireya Solis

Bắt đầu thế kỷ 21, các quốc gia ở mọi nơi trên thế giới hào hứng đàm phán về các hiệp định thương mại tự do (FTA) dựa trên nguyên tắc mở cửa thị trường, đối lập với nguyên tắc tối huệ quốc của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Đàm phán về các thỏa thuận thương mại ưu đãi đang là xu hướng chủ đạo trong thương mại và hầu như không quốc gia nào thoát khỏi ảnh hưởng của hiện tượng FTA. Vậy tại sao Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) – một thỏa thuận thương mại tiêu chuẩn cao – vẫn là trung tâm trong các cuộc tranh luận?

Tầm quan trọng của TPP

TPP thu hút sự chú ý vì nó khuấy đảo sự cần thiết phải có những thỏa thuận lớn so với những thỏa thuận thương mại song phương nhỏ như FTA và đưa ra một cơ sở mới để thúc đẩy đàm phán thương mại khi vòng đàm phán Doha bế tắc. TPP ban đầu chỉ gồm 4 nền kinh tế nhỏ là Brunei, New Zealand, Chile và Singapore thì nay đã có tới 12 quốc gia, chiếm 26% thương mại thế giới và được kỳ vọng tạo ra thu nhập khoảng 492 tỷ USD đến năm 2030. TPP thúc đẩy tầm nhìn rộng mở về châu Á – Thái Bình Dương với tham vọng xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế. Cấu trúc mở của khu vực với các cơ chế kết nối sẽ khuyến khích mở rộng thành viên thêm nữa và thiết lập mối liên kết xuyên khu vực nhằm kết nối châu Á với khu vực Bắc Mỹ và Nam Mỹ. Mặt khác, TPP đem đến hy vọng có thể kiểm soát những thay đổi trong quản lý thương mại quốc tế. Nguyên nhân do sự thay đổi trong các chương trình nghị sự thương mại và những hạn chế của WTO với tư cách là một diễn đàn đàm phán đã đưa đến những nghi ngờ về vai trò của một hệ thống luật bắt buộc dành cho hơn 150 quốc gia thành viên. Tuy vậy, TPP cũng tiềm ẩn những rủi ro về sự chia rẽ (nếu các thỏa thuận thương mại tự do bỏ qua các quốc gia ít phát triển). TPP còn xây dựng hệ thống các quan điểm toàn diện hằm xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan như các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, tính cạnh tranh, dây chuyền cung ứng… Với 30 chương và dài hơn 5000 trang, các quy định của TPP phải mất thời gian mới có thể thực hiện được. Tuy nhiên, có thể nhận thấy ngay những quy định về những vấn đề quan trọng trong lĩnh vực kinh tế chẳng hạn như chương về Thương mại Điện tử buộc các chính phủ phải cho phép các dòng dữ liệu được lưu hành một cách tự do, không được yêu cầu đối tác phải đặt các trung tâm dữ liệu tại các vị trí bắt buộc, đưa ra khuôn khổ pháp lý để bảo mật thông tin cá nhân hay không yêu cầu phải có mã nguồn phần mềm khi cần chuyển giao hay truy cập. TPP còn mở ra một chương mới đầy hứa hẹn cho 12 quốc gia thành viên với thể chế và mức độ phát riển khác nhau có thể htống nhất về sự tự do hóa thương mại lớn nhất cho đến thời điểm hiện nay. Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng việc thúc đẩy ký kết TP vào năm 2015 đã thể hiện một thắng lợi lớn về thương mại hiện nay sau hai thập kỷ chưa thấy một thành tựu nào về lĩnh vực này. Kể từ khi thành lập, WTO vẫn chưa nâng cấp các quy định về đầu tư và thương mại quốc tế, trong khi đàm phán Doha vẫn bế tắc. Do đó, TPP sẽ trở thành khuôn khổ có sức cuốn hút mạnh mẽ nhất để thúc đẩy các nước khác, trong đó có Trung Quốc phải cải cách thị trường và tham gia các cam kết tự do hóa thương mại toàn cầu.

Tác động của TPP đối với Mỹ và Nhật Bản

Cốt lõi của TPP chính là vai trò của Mỹ và Nhật Bản với tư cách hai nền kinh tế lớn nhất và phát triển nhất trong TPP. TPP nổi lên là ưu tiên chính sách trọng tâm của hai nước này nhằm cải thiện tính cạnh tranh kinh tế và đạt được các mục tiêu rộng hơn. Với tư cách một cường quốc tại Thái Bình Dương, Mỹ hy vọng thu hoạch những lợi ích kinh tế quan trọng từ TPP. Đây là thỏa thuận khai thác tối đa những lĩnh vực có thế mạnh cạnh tranh của nền kinh tế Mỹ như xuất khẩu nông sản, dịch vụ thương mại, kinh tế số… Các nghiên cứu kinh tế gần đây dự đoán những thành quả mà TPP có thể mang lại cho Mỹ vào khoảng 131 tỷ USD mỗi năm và khi TPP mở rộng hơn thành một tiêu chuẩn quốc tế thì con số này còn tăng hơn nữa. Thực sự TPP là trọng tâm của thương mại Mỹ. Xuất phát từ quan điểm về quản lý toàn cầu, TPP là một phép thử đối với khả năng dẫn đầu của Mỹ trong thời điểm có nhiều xáo trộn trong trật tự kinh tế thế giới. Các nền kinh tế đang nổi sẽ có tiếng nói ngày càng lớn trong điều hành kinh tế thế giới do các dây chuyền cung ứng nổi lên là yếu tố định hướng sản xuất và thương mại toàn cầu. Thông qua TPP, Mỹ thể hiện sức mạnh trong đàm phán các quy định thương mại, thành lập các các hình thức thể chế mới, chủ động tham gia các sáng kiến kinh tế.

TPP cũng là một trụ cột trong chính sách hướng tới châu Á của Mỹ, củng cố cam kết duy trì vai trò của Mỹ với tư cách một cường quốc ở Thái Bình Dương. Thỏa thuận thương mại này làm gia tăng tính hấp dẫn của chính sách “tái cân bằng” – không chỉ là điều chỉnh lại các nguồn lực quân sự của Mỹ tại khu vực mà còn theo đuổi mục tiêu thúc đẩy liên kết kinh tế với những quy định phù hợp với thực tế hoàn cảnh kinh tế trong thế kỷ 21 và có thể mở ra triển vọng kết nạp Trung Quốc vào TPP. Sự thành công của TPP còn là động lực cần thiết đối với đàm phán thương mại xuyên Đại Tây Dương nhưng cũng ảnh hưởng tới các sáng kiến thương mại quan trọng khác. Ví dụ như nguyên tắc của TPP đối với các tập đoàn sở hữu nhà nước sẽ ảnh hưởng tới Hiệp định thương mại dịch vụ trong khuôn khổ WTO.

Trong khi đó, Nhật Bản là đối tác rất quan trọng của Mỹ trong việc thực hiện những mục tiêu trên. Nhật Bản tham gia đàm phán TPP muộn vào màu Hè năm 2013 nhưng đã có những thay đổi quan trọng về kinh tế và chính trị để phù hợp với thỏa thuận này. Sự tham gia của Nhật Bản cho phép TPP đáp ứng chất lượng của một hỏa thuận thương mại lớn. Chỉ tính riêng với Mỹ, những thành quả kinh tế có được với Nhật Bản đã tăng gấp ba lần. Điều này không đáng ngạc nhiên khi xem xét độ lớn của thị trường Nhật Bản và thực tế là Mỹ và Nhật Bản chưa có thỏa thuận thương mại song phương nào. Hơn nữa, trước khi Nhật Bản tham gia TPP thì cũng có một vài nghi ngờ rằng thỏa thuận này liệu có trở thành nền tảng của sự hội nhập kinh tế ở châu Á – Thái Bình Dương khi không có một nền kinh tế lớn nào ở châu Á tham gia. Việc Nhật Bản tham gia TPP đã chấm dứt những nghi ngờ này. TPP cũng có tác động đối với ngoại thương và sự theo đuổi các ưu tiên chính sách đối nội và đối ngoại trọng tâm của Nhật Bản. Trước khi gia nhập TPP, chiến lược thương mại của Nhật Bản đạt được những thành quả khá khiêm tốn: tụt lại phía sau so với các nước bạn trong đàm phán một mạng lưới FTA bao trùm phần lớn các lĩnh vực thương mại của nước này, phải đối mặt với nhiều khó khăn trong thuyết phục các quốc gia Đông Nam Á chấp nhận nhiều quy tắc ngoài WTO, nhận được sự thờ ơ từ Mỹ và châu Âu khi Nhật Bản khởi xướng đàm phán về các thỏa thuận thương mại và rơi vào tình trạng bế tắc với Trung Quốc về tiêu chuẩn thành viên của nhóm thương mại Đông Á. TPP đã giúp Nhật Bản có thể đàm phán về quyền tiếp cận ưu tiên đối với các thị trường lớn. Phản ứng với việc Nhật Bản tham gia TPP, Trung Quốc đã sửa đổi chính sách thương mại của họ để bắt kịp với đàm phán thương mại ba bên trong khu vực Đông Bắc Á và đang thúc đẩy kết thúc đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) với 15 nước khác.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.brookings.edu – số 4/2016

TLTKĐB – 24/05/2016

Mireya Solis là chuyên gia cao cấp về chính sách kinh tế đối ngoại Nhật Bản tại Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Đông Á thuộc Viện Brookings.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s