Tại Mỹ, thái độ ngập ngừng trước việc mở cửa quan hệ thương mại với Việt Nam vẫn còn nhiều. Nhiều tổ chức công đoàn và hiệp hội bảo vệ quyền con người luôn nêu ra những hạn chế trong các quy định của Việt Nam liên quan đến quyền lao động và lao động trẻ em. Ngoài ra, TPP quy định rằng hàng hóa dệt may của một nước tham gia hiệp định xuất khẩu vào một nước thành viên khác, muốn được hưởng ưu đãi thuế quan theo TPP, hàng hóa đó phải sử dụng những nguyên liệu, theo quy tắc “từ sợi trở đi”, có nguồn gốc xuất xứ từ những nước tham gia TPP, trong khi hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam vốn phụ thuộc rất nhiều vào nguyên liệu Trung Quốc (quốc gia không tham gia TPP), điều này trở thành khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam khi phải đảm bảo “nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm từ sợi trở đi”. Lưỡng viện quốc hội Mỹ vốn bị hối thúc hơn cả bởi ngành công nghiệp ôtô, muốn rằng TPP đề cập đến vấn đề tỷ giá hối đoái và định giá thấp đồng tiền của các quốc gia nhằm làm cho hàng hóa xuất khẩu của châu Á trở nên mang tính cạnh tranh hơn. Lưỡng viện quốc hội Mỹ cũng nêu lên vấn đề của các doanh nghiệp nhà nước và kiểm soát vệ sinh các sản phẩm thủy hải sản xuất khẩu của Việt Nam. Vấn đề kiểm soát vệ sinh các sản phẩm thủy hải sản xuất khẩu của Việt Nam làm dấy lên các cuộc tranh luận gay gắt trong giới các nhà nuôi cá da trơn ở miền Nam nước Mỹ. Trước sự cạnh tranh của cá da trơn Việt Nam, những người nuôi loại cá này tại Mỹ đã thực hiện một chiến dịch đòi người Việt Nam không được gọi sản phẩm cá họ xuất khẩu vào Mỹ là “catfish” nữa để tránh lẫn lộn với các sản phẩm được nuôi ở miền Nam nước Mỹ, sau đó những người nuôi cá ở Mỹ còn kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá cá da trơn. Vụ việc này cho thấy người Mỹ đôi khi áp đặt luật lệ lên người khác đến mức độ nào nhưng rồi họ cũng nhanh chóng cho qua những chuyện đó.

Một khi TPP thành hiện thực, chắc chắn nó sẽ không phải là một hình thức liên minh mới. Hiệp định này không ngăn cản sự tiếp diễn của quá trình hòa nhập kinh tế khu vực tại châu Á. Cộng đồng kinh tế Đông Nam Á sẽ ra đời vào cuối năm 2015. Ngoài ra, Việt Nam còn tham gia một dự án ít tham vọng hơn. Hiệp định Đối tác kinh tế toàn khu vực, quy tụ ASEAN, Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zealand và Hàn Quốc. Việt Nam cũng đang đàm phán một hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu (EU), với những đòi hỏi của EU về quyền con người. Việt Nam đã ký kết hồi tháng 12/2014 hai hiệp định thương mại tự do với Hàn Quốc và với Liên minh kinh tế Á – Âu. Về phần mình, Mỹ đã có hiệp định thương mại tự do vói một nửa số thành viên tham gia TPP nhưng chưa ký với Nhật Bản. Vấn đề cốt lõi của quá trình đàm phán TPP là những thương lượng giữa Washington và Tokyo cũng như là với Canada và Mexico.

Một “diễn biến hòa bình” của Việt Nam?

Từ cuối những năm 1980, các nhà lãnh đạo Việt Nam e ngại rằng người Mỹ muốn thay đổi chế độ chính trị của họ. Giới chức Việt Nam đã lấy khái niệm “diễn biến hòa bình” mà Trung Quốc nói đến từ đầu những năm 1990: khái niệm này chỉ việc các nước tư bản chủ nghĩa, sau khi không thành công trong việc lật đổ các nhà nước theo chủ nghĩa xã hội, đã tìm cách dùng một diễn biến không đổ máu nhưng nó dẫn đến sự loại bỏ vai trò độc quyền của Đảng Cộng sản. Theo các nước tư bản, chiến lược này đã thành công tại khu vực Đông Âu. Hà Nội cố gắng tách vấn đề chủ quyền trong quan hệ với Trung Quốc, dù cho có phản ứng từ phía người dân. Bên cạnh đó, tác vấn đề quyền con người trong quan hệ với Mỹ, dù cho có phản ứng từ phía các cán bộ trong nội bộ Đảng Cộng sản. Theo đó vấn đề chủ quyền không làm hỏng mối quan hệ với Trung Quốc cũng như vấn đề quyền con người không làm ảnh hưởng đến mối quan hệ với Mỹ. Trên trang mại của Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội, ưu tiên được dành cho những báo cáo cho thấy thứ hạng của Việt Nam trong lĩnh vực tôn trọng quyền con người, tự do tôn giáo hay cuộc chiến chống lại nạn buôn người. Chúng ta biết rằng “Mỹ hóa” các tiêu chuẩn và cách thức tiến hành không chỉ được thực hiện bằng việc xuất khẩu dưới sự sắp xếp của các nhân vật tại Mỹ mà còn bởi sức mạnh nhập khẩu của Mỹ. Việt Nam sẽ thay đổi một cách thật đơn giản để thâm nhập vào thị trường Mỹ, điều cần thiết để bù đắp lại sự thiếu hụt thương mại to lớn với Trung Quốc. Về vấn đề quyền con người, giới ngoại giao Mỹ có cảm tưởng rằng Chính phủ Việt Nam sử dụng sự mềm dẻo quen thuộc, kết hợp giữa những nhượng bộ bề nổi cộng với những cam kết có tính hình thức không ảnh hưởng gì đến sự vận hành của chính quyền. Các tổ chức phi chính phủ lớn đang đặt chân một cách rụt rè vào Việt Nam. Tháng 3/2013, một phái đoàn của Tổ chức Ân xá quốc tế (Mỹ) đã được mời tới Việt Nam, sau đó một năm đến lượt các đại diện ban Thư ký của tổ chức này cũng đã tới làm việc tại Việt Nam. Năm 2013, Việt Nam đã ký kết Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn. Tuy nhiên vẫn tồn tại nhiều lý do đặc biệt đưa đến những ý kiến tiêu cực tại Quốc hội Mỹ. Rốt cục, Chính phủ Việt Nam rất khéo léo để thả hoặc bắt giam những phần tử ly khai trong những thời điểm “quan trọng”. Sự mềm dẻo trong lĩnh vực quyền con người có thể là một điều kiện để có được sự ủng hộ của Mỹ đối với vấn đề Trung Quốc – điều này hẳn đã có tiền lệ với một trong những tính toán của lực lượng đảo chính tại Myanmar. Vấn đề tự do tôn giáo đã trở thành tâm điểm trong chính sách đối ngoại Mỹ giai đoạn cuối những năm 1990. Năm 2004, năm diễn ra bầu cử tổng thống Mỹ, Tổng thống Bush đã xếp Việt Nam (và Saudi Arabia) vào danh sách những nước cần được quan tâm đặc biệt. Năm 2006, Việt Nam đã được rút tên khỏi danh sách này nhân chuyến thăm của Tổng thống Bush tới Việt Nam, và cũng nhân dịp này, Tổng thống Mỹ đa tham dự vào một buổi lễ tôn giáo tại đây. Cuối năm 2014, Ted Osius, một trong các sáng lập viên của Hiệp hội người đồng tính tại các cơ quan ngoại giao Mỹ, đã được bổ nhiệm làm Đại sứ Mỹ tại Việt Nam. Ted Osius đã trải qua phần lớn thời gian trong sự nghiệm của mình tại châu Á và đóng vai trò quan trọng trong quá trình Việt Nam và Mỹ khôi phục quan hệ ngoại giao giai đoạn 1995 – 1997. Cũng trong thời gian Đại sứ Mỹ nhận công tác tại Việt Nam, quốc gia này đã bãi bỏ quy định cấm kết hôn đồng tính và trở thành quốc gia cởi mở nhất tại châu Á trong vấn đề quyền của những người đồng tính, song tính và người chuyển giới (LGBT). Không nghi ngờ gì nữa, đây cũng là một vấn đề quan trọng để thu hút du lịch. Tại Hà Nội từ năm 2012 cũng đã có lễ hội của cộng đồng những người LGBT, “Viet Pride” nguồn gốc của lễ hội này là từ Đức và Thụy Điển.

Những giới hạn của sự xích lại chiến lược với Mỹ

Những giới hạn của mối quan hệ đối tác với Mỹ

Việt Nam chỉ là một mảnh trong trò chơi xếp hình mang tính khu vực: người Mỹ có chỗ đứng tốt để biết rằng không cần phóng đại tầm quan trọng của vấn đề. Biển Đông còn xa mới trở thành hồ sơ châu Á thụ hưởng sự ưu tiên của Mỹ. Trong những năm tháng mà Tổng thống Obama nắm quyền, chính Indonesia mới là quốc gia thu hút sự quan tâm tại Đông Nam Á, sau đó là đến Myanmar, từ giờ trở đi là Philippines và cả Malaysia, quốc gia giữ cương vị chủ tịch ASEAN vào năm 2015 và đang là ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Việt Nam không thể thực sự trông chờ vào mộ tnhóm gây ảnh hưởng tại Washington trong khi mà những đua tranh kiểu châu Á đang nổi lên tại thủ đô “Xứ Cờ hoa”. Có khoảng 1,3 triệu người Việt Nam sống ở Mỹ, phần lớn trong số họ đến Mỹ trước năm 2000 và sống chủ yếu tại những thành phố lớn ở California, hay Texas. Năm 2014, Lương Xuân Việt người Mỹ gốc Việt đầu tiên được thăng cấp bậc chuẩn tướng trong quân đội Mỹ. Tuy thành công của người Việt tại Mỹ không thể so sánh với các cộng đồng châu Á khác như Ấn Độ hay Trung Quốc hay với đầu óc tổ chức tài giỏi của người Triều Tiên. Nhưng số ngoại tệ mà Việt kiều tại Mỹ chuyển về quê nhà cũng lên tới hơn 11 tỷ USD. Chủ nghĩa bài Mỹ đã suy giảm tại phần lớn các quôc gia Đông Á. Hình ảnh đẹp của Mỹ tại Việt Nam không phải là một điều đặc biệt. Tương tự, như phần lớn các nước châu Á khác, Việt Nam cho rằng Trung Quốc sẽ nhanh chóng trở thành cường quốc mạnh nhất. Những cuộc thăm dò ý kiến chỉ ra rằng nỗi lo sợ đối với Trung Quốc không được sản sinh ra một cách tự nhiên từ tỉnh cảm “trìu mến” với nước Mỹ. Phần lớn các nước châu Á tán thành chiến lược tái cân bằng của Mỹ. Chiến lược này vừa gợi lên những mong đợi nhưng cũng cả những lo sợ việc Washington sẽ hành động một cách đơn phương và khiêu khích. Các nước châu Á đang “hưởng” một trật tự khu vực và trật tự quốc tế mà Mỹ dường như là người bảo lãnh. Về phần mình, các quốc gia châu Á vừa thu lợi từ trật tự này vừa đóng góp vào việc xây dựng nên trật tự ấy và mang lại tính chính đáng cho nó.

Việt Nam mới chỉ xác lập với Mỹ quan hệ đối tác toàn diện năm 2013, một quan hệ mà Việt Nam cũng có với Australia. Bên cạnh đó, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược với nhiều nước châu Âu, với Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Indonesia, Thái Lan và hai quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nga và Trung Quốc. Việt Nam trung thành với học thuyết “3 không”: Không để nước ngoài thiết lập căn cứ quân sự tại Việt Nam, không đi với này để chống nước kia, không cho nước khác sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại một nước khác. Vậy thì, không nghi ngờ gì nữa người Mỹ sẽ không quan lại cảng Cam Ranh, người Nga cũng đã sớm rút khỏi đây vào năm 2002, hơn nữa châm ngôn mới của Mỹ “cần địa điểm, chứ không cần căn cứ” càng giảm bớt tác động của sự trở lại của người Mỹ. Tháng 11/2014, Hà Nội và Moskva đã thỏa thuận rằng Hải quân Nga có những chuyến ghé thăm lại cảng Cam Ranh, nơi cũng thu hút sự quan tâm của Mỹ trong những năm 1980. Chính nước Nga đã giúp Việt Nam quy hoạch lại quân cảng này.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Herodote (Pháp) – số 157

TLTKĐB – 21 & 22/05/2016

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s