1/ Kiên trì, vững tâm

Một người biết nắm cơ hội để thành công có khí tiết quang minh lỗi lạc đều là do rèn luyện trong gian khó mà nên. Một người có tài thao lược tề gia trị quốc và trí tuệ hơn người cũng đều là từ kiên trì mài giũa mà thành.

Trong Luận ngữ, Khổng Tử nói: “Có thể bắt được tướng giữa đám ba quân mà không thể đạt được chí của kẻ thất phu”. Bắt tướng trong đám ba quân vốn là chuyện lớn nhưng vẫn có thể thành công còn kẻ thất phu tuy tầm thường nhưng khi chí hướng đã kiên định thì sức mạnh bên ngoài khó mà lung lay được. Bởi vậy người xưa có câu: “Người có chí thì việc tất thành”.

Đương nhiên, từ “lập chí” đến “thành sự” là hành trình không phải chỉ một sáng một chiều là đạt được. Con đường đi đến thành công phải trải qua rất nhiều gian truân trở ngại. Trước trắc trở và thất bại, nếu không nỗ lực phấn đấu với thái độ tiến thủ tích cực thì khó có thể thành công. Tinh thần nỗ lực phấn đấu vì một mục đích, lý tưởng nhất định là sự thể hiện của ý chí tự lực tự cường không ngừng nghỉ. Văn Vương do bị giam hãm ở Mỹ Lý và viết nên Dịch. Tư Mã Thiên hổ thẹn vì bị tội cung hình (bị thiến) mà viết ra Sử ký. Tôn Mạc buồn vì bị khoét bánh chè mà nổi dậy ở Đông Sơn. Ở họ đều thể hiện tinh thần tự lực tự cường, không ngại khó khăn trắc trở.

Tôn Tẫn được tôi luyện qua bao kiếp nạn, cuối cùng hiểu được thế gian còn có hai chữ “hiểm ác”. Nỗi khổ về tâm trí và vết thương thân thể giúp ông thêm trưởng thành, ý chí càng thêm kiên cường. Trí tuệ, sự uyên bác và đặc biệt là thiên tài quân sự của ông đã được phát huy đến mức nhuần nhuyễn, tuyệt đối trên vũ đài chính trị của nước Tề.

Mới đầu Tôn Tẫn đã tin Bàng Quyên, vốn là một kẻ hay đố kị. Khoảng nửa năm sau Bàng Quyên mượn danh nghĩa anh họ là Tôn Bình viết giả một bức thư nhà sai đem đến cho Tôn Tẫn. Sau đó đem việc này tâu lại Ngụy Huệ Vương, rồi bắt Tôn Tẫn với tội danh là tư thông với nước Tề, đem chặt gãy hai chân và thích chữ lên mặt. Bàng Quyền vờ rơi mấy giọt “nước mắt cá sấu”, đổ tất cả tội lỗi lên đầu Ngụy Huệ Vương, ra vẻ trong sạch vô tội. Làm như vậy không phải là bởi nghĩa đồng môn mà là muốn có được mười ba thiên binh pháp tổ truyền của Tôn Tẫn.

Tôn Tẫn thấy Bàng Quyên đối xử có tình có nghĩa tốt với mình nên định truyền lại binh thư cho Bàng Quyên. Ngờ đâu ít lâu sau mọi chuyện vỡ lở, có một kẻ tôi tớ đem dụng tâm hiểm ác của Bàng Quyên kể lại cho Tôn Tẫn. Tôn Tẫn đem đốt binh thư, giả bộ điên khùng, nhẫn nại chịu đựng bao điều khổ nhục, khiến Bàng Quyên không để tâm đến chủ ý của mình.

Vua Tề đã nghe đồn về tài năng của Tôn Tẫn từ lâu, khi được biết Tôn Tẫn phải chịu khổ nhục ở nước Ngụy bèn sai sứ giả lấy danh nghĩa đến viếng thăm nước Ngụy, giấu Tôn Tẫn trong xe ngựa, lén lút đưa về nước Tề.

Khi Tôn Tẫn gặp Tề Uy Vương thì nước Tề đã được cải cách, thực lực đất nước lớn mạnh rõ rệt. Vì vậy Tề Uy Vương muốn khoa trương thanh thế với bên ngoài, khống chế chư hầu, tranh bá nghiệp với nước Ngụy, cho nên rất muốn chiêu mộ nhân tài quân sự.

Tôn Tẫn đến khiến cho Tề Uy Vương vui mừng như nắng hạn gặp mưa rào, càm thấy tiếc vì gặp quá muộn. Vua tôi chuyện trò, hết sức tâm đầu ý hợp. Tài học và trí tuệ của Tôn Tẫn đã giúp giải quyết mọi vấn đề khó khăn về chính trị, quân sự và ngoại giao của Tề Uy Vương. Tề Uy Vương vô cùng khâm phục tài trí củ Tôn Tẫn, thỉnh cầu ông làm thầy mình, dạy dỗ binh pháp. Tôn Tẫn khiêm nhường nói rằng mình là kẻ phạm tội bị phạt được Tề Vương triệu kiến đã là vinh hạnh lắm rồi, được làm bề tôi dưới trướng Tề Vương đã lấy làm mãn nguyện vô cùng. Tề Uy Vương liền xây phủ đệ ở Tắc Hạ cho Tôn Tẫn, đối đãi rất tử tế.

Năm 354 trước Công nguyên, (năm Chu Hiển Vương thứ 15, Ngụy Huệ Vương thứ 17, Tề Uy Vương thứ 25, Tần Hiếu Công thứ 8), nước Triệu tấn công nước Vệ, ép nước Vệ phải triều cống. Nước Vệ trước đây vốn triều cống nước Ngụy, nay về chầu nước Triệu đương nhiên là Ngụy không thể bằng lòng. Lại thêm nước Triệu từng can dự vào việc tranh ngôi của vua nước Ngụy, thù cũ hận mới, Ngụy Huệ Vương quyết định xuất quân đánh Triệu. Ngụy Huệ Vương sai Bàng Quyên thống lĩnh đại quân tấn công nước Triệu. Do quân Ngụy lính khỏe, ngựa tốt, lương thảo đầy đủ nên quân Triệu không đủ sức chống đỡ. Triệu Thành Hầu đành phải hạ lệnh cố thủ chờ tiếp viện. Quân Ngụy vây kín thành Hàm Đan, thế mạnh như vũ bão.

Hai nước Tề, Triệu liên minh với nhau trên cơ sở cùng phản đối bá nghiệp của Ngụy Huệ Vương, vì vậy vua Triệu là Triệu Thành Hầu sai sứ giả đến nước Tề cầu viện, lại xin dâng Trung Sơn để làm lễ tạ.

Vua tôi nhà Tề bàn bạc vô cùng căng thẳng về việc có nên giúp nước Triệu hay không. Tể tướng Châu Kị phản đối, theo ông Triệu và Ngụy đánh lẫn nhau thì có thể khiến cho thực lực của họ suy yếu, như vậy nước Tề có thể thừa cơ phát triển sức mạnh của mình. Đại phu Thuần Vu Khôn lại cho rằng nếu để cho nước Ngụy giành thắng lợi thì thế lực của họ tất sẽ tăng lên nhiều, có thể đe dọa sự an toàn của nước Triệu.

Tề Uy Vương chưa thể định liệu ngay được bèn hỏi ý kiến Tôn Tẫn. Tôn Tẫn trả lời: “Nên đi cứu nước Triệu, vấn đề là ở chỗ lúc nào sẽ xuất quân? Trước mắt thế quân Ngụy đang mạnh, xuất quân lúc này rất bất lợi cho ta. Thành Hàm Đan phòng ngự rất kiên cố, nước Ngụy không thể công phá trong ngày một ngày hai. Ta có thể xuất quân chậm một chút, đợi lúc quân Ngụy mệt mỏi suy yếu sẽ hành động thì hẳn dễ dàng giải vây cho Hàm Đan”.

Tề Uy Vương thấy Tôn Tẫn phân tích rất hợp lý nên quyết định tạm hoãn xuất quân.

Đến mùa xuân năm sau, Tề Uy Vương cho rằng thời cơ đã chín muồi liền chuẩn bị đi cứu Triệu. Ông giao cho Tôn Tẫn làm đại tướng, Tôn Tẫn từ chối: “Không được, thần là một tội nhân tàn tật, nhận chức đại tướng tất sẽ bị kẻ định chê cười, đại vương nên mời Điền Đại phu làm đại tướng”. Tề Uy Vương nghe theo, bèn phong Điền Kị làm đại tướng, Tôn Tẫn làm quân sư phụ trách chiến lược, chiến thuật.

Đại quân nước Tề xuất phát từ kinh tế Lâm Trì, mười ngày sau đã đến bờ Nam sông Hoàng Hà. Tôn Tẫn lệnh cho quân sĩ dừng lại mà không qua sông. Lúc này quân Ngụy bao vây Hàm Đan lại chĩa mũi nhọn sang nước Vệ ở cận bên, chia quân ra đánh nước Vệ đồng thời uy hiếp nước Tống ở phía Đông. Quân Ngụy chi quân ra làm hai đường khiến Điền Kị vô cùng khó hiểu. Tôn Tẫn giải thích rằng: “Giặc đánh đã lâu, nay tấn công Vệ, uy hiếp Tống là để lập hành lang ngăn cách”.

Điền Kị hỏi: “Bây giờ ta nên làm thế nào?”

Tôn Tẫn đáp: “Thế giặc vẫn rất mạnh, không thể giao đấu trực tiếp với chúng được, cách tốt nhất là đánh vào tâm lý sợ hãi của quân Ngụy, liên kết với quân Vệ, Tống, chủ động đánh và hậu phương quân Ngụy, làm đảo lộn hoàn toàn kế hoạch của chúng”.

Điền Kị lại hỏi: “Ta đánh vào đâu thì thích hợp?”

Tôn Tẫn nói: “Binh pháp nói rằng: “Đánh vào chỗ phải cứu”. Vùng Tương Lăng (Phía Tây huyện Tuy, Hà Nam) của nước Ngụy, thành tuy nhỏ nhưng phạm vi quản hạt rộng, người đông, lương thực dồi dào, là trung tâm kinh tế ở phía Đông của Ngụy. Chỉ cần chúng ta phái một bộ phận binh lực, liên kết với quân Tống, Vệ tấn công vào chỗ này thì quân Ngụy tất thôi đánh Vệ mà quay về cứu viện Tương Lăng”.

Điều Kị hỏi: “Ta cử ai đi thì hợp?”

Tôn Tẫn nói: “Người này phải nắm vững binh pháp và có khả năng tác chiến độc lập”.

Điều Kị nói: “Hai vị đại phu là Tế Thành và Cao Đường đáp ứng điều kiện này”.

Tôn Tẫn nói: “Lần này xuất quân phải khiến cho quân Ngụy tưởng lầm rằng đó là chủ lực của ta. Muốn vậy phải nhờ Tế Thành, Cao Đường khoa trương thanh thế, chia quân làm hai ngả, trước sau hai bên bao vây Tương Lăng”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Vietbook – Nghệ thuật nắm bắt cơ hội tùy cơ ứng biến – NXB VHTT 2010.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s