Vào ngày 2 tháng Mười một 2004, các công dân Mỹ, với tư cách là những người chủ, có cơ hội được giữ lại hay thay thế người đại diện quan trọng nhất của mình, tổng thống Hoa Kỳ. Vẫn giống như trường hợp khi tổng thống đang hướng tới nhiệm kỳ thứ hai, cuộc bầu cử chủ yếu được xem là một cuộc trưng cầu dân ý về kết quả làm việc của ông với tư cách tổng thống. Các sự kiện ầm ĩ của bốn năm qua đã cho phép các cử tri có nhiều thứ để đánh giá. George W. Bush lên nắm quyền vào năm 2001 trong hoàn cảnh khiến cho gần một nửa số cử tri bỏ phiếu cho ông nghi ngờ về tính hợp thức trong thắng lợi của ông; ông thua phiếu phổ thông trước Al Gore nhưng lại thắng phiếu đại cử tri khi một phán quyết gây trah cãi của Tòa án tối cao yêu cần ngừng việc kiểm phiếu lại ở Florida – điều trên thực tế có nghĩa là trao toàn bộ số phiếu đại cử tri của bang này, và cùng với nó là sự đắc cử, cho Bush. Thay vì coi sự ủy nhiệm không chắc chắn của mình là một tín hiệu để cai quản đất nước ở cấp trung ương với sự hợp tác cùng những người Dân chủ, như nhiều người đã trông đợi, Bush đã theo đuổi quyết liệt một chương trình nghị sự đối nội phần lớn mang tính bảo thủ, nổi bật nhất là những khoản cắt giảm thuế đem lại lợi ích lớn nhất cho những người đóng thuế giàu có nhất, điều càng làm sâu sắc thêm tình trạng chia rẽ đảng phái cả ở Washington lẫn trong bộ phận dân thường.

Sau đó, vào tháng thứ chín trong nhiệm kỳ của Bush, các phần tử khủng bố al Qaeda đã tấn công New York và Washington D.C., làm thay đổi hoàn toàn nhiệm kỳ tổng thống của Bush và chuyển hóa nhận thức của công chúng về tổng thống. Đẩy lùi chủ nghĩa hủng bố trở thành mục tiêu trung tâm của chính quyền. Tehoyêu cầu của tổng thống, Quốc hội đã nhanh chóng thông qua Đạo luật ái quốc Hoa Kỳ. Sau đó, Bush đã tiến hành hành động quân sự chống lại Afghanistan và đến tháng Mười hai 2001 đã lật đổ được chính phủ có chứa chấp các nhà lãnh đạo al Qeada. Sự ùng hộ của dân chúng dành cho chính sách cứng rắn đối với Afghanistan của tổng thống là mang tính áp đảo và không phân biệt đảng phái, nhưng quyết định đưa quân vào Iraq 14 tháng sau đó thì gây tranh cãi nhiều hơn. Thắng lợi quân sự nhanh chóng ở đây được đông đảo dư luận hoan nghênh, nhưng sau đó là những tháng trời chứng kiến các cuộc tấn công chết người vào binh lính Mỹ và các đồng minh Iraq của họ, và khi thời gian trôi qua, việc không thể tìm thấy các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt ở Iraq hay bất kỳ bằng chứng nào về sự liên hệ giữa nhà lãnh đạo Iraq Saddam Hussein và các phần tử khủng bố ngày 11 tháng Chín đã làm xói mòn các lý lẽ biện minh của tổng thống cho cuộc chiến này. Cho đến năm 2004, người dân Mỹ trở nên bị chia rẽ sâu sắc, chủ yếu là theo đường lối đảng phái, về sự khôn ngoan và cần thiết của cuộc chiến. Họ cũng bị chia rẽ sâu sắc không kém, hoặc thậm chí còn hơn, trong các vấn đề liên quan đến bản thân Bush; sự khác biệt giữa các đảng phái trong việc đánh giá kết quả làm việc của Bush với tư cách tổng thống ở mức lớn nhất kể từ khi việc thăm dò công luận được bắt đầu tiến hành hơn 50 năm về trước.

Cuộc chiến ở Iraq không phải là nguồn gây xung đột quan điểm duy nhất về tổng thống. Nền kinh tế quốc dân đã trượt vào suy thoái trong những năm đầu nhiệm kỳ của Bush; bất chấpmức tăng trưởng kinh tế nhẹ trong những năm sau đó, mức công ăn việc làm vẫn không phục hồi hoàn toàn tính đến cuộc bầu cử năm 2004. Chỉ có mức điểm cao trong việc giải quyết chủ nghĩa khủng bố (đạt trung bình 57% trong những cuộc thăm dò được tiến hành hai tháng trước cuộc bầu cử năm 2004) mới ngăn được những đánh giá về cách điều hành nền kinh tế của Bush (mức tán thành trung bình 43%) và cuộc chiến ở Iraq (mức tán thành trung bình 45%) không kéo mức độ ủng hộ chung dành cho ông (trung bình 49%) xuống tới mức mà có thể khiến cho việc tái đắc cử trở thành điều không thể. Ông cũng được bảo vệ nhờ mức ủng hộ áp đảo từ những người dân ủng hộ Đảng Cộng hòa trong tất cả những khía cạnh này, ngay cả khi đa số độc lập cũng như những người ủng hộ Đảng Dân chủ có quan điểm đối nghịch. Đánh giá của người dân Mỹ về các chính sách của chính quyền liên quan đến thuế, năng lượng. An sinh xã hội, bảo vệ môi trường và giáo dục cũng chia rẽ sâu sắc theo đường lối đảng phái.

Những đánh giá hết sức khác biệt về Bush và chính quyền của ông đã gây ra một áp lực đặc biệt mạnh mẽ đối với Nhà Trắng. Thống đốc bang Vermont là Horward Dean ban đầu giành thế thượng phong trong danh sách 10 ứng cử viên cạnh tranh cho vị trí đề cử của Đảng Dân chủ bằng cách khơi dậy có hiệu quả tình cảm phản chiến trong đảng mình, nhưng John Kerry, một cựu chiến binh đã được tặng thưởng Huân chương khi tham chiến tại Việt Nam, đã giành được quyền thách thức Bush bằng cách thuyết phục hầu hết những người thuộc Đảng Dân chủ rằng ông có những sứ mệnh ủy nhiệm phù hợp nhất để đảm nhiệm cương vị một tổng thống, người chắc chắn sẽ làm cho việc lãnh đạo cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố trở thành trung tâm trong chiến dịch vận động của mình. Với những tình cảm chính trị đạt đến cao trào, cả hai đều có khả năng gây những khoản tiền lớn cho chiến dịch vận động của mình, với tổng chi tiêu cuối cùng vượt quá 1 tỷ USD, lớn hơn 56% so với chiến dịch vận động tranh cử năm 2000. Các nhóm bên ngoài đã dành thêm hàng trăm triệu USD nữa cho các chiến dịch vận động chống lại những ứng cử viên này hay ứng cử viên kia. Mối quan tâm và sự tham gia của công chúng vào các chiến dịch vận động đạt đến mức cao nhất trong nhiều năm, và những cuộc tranh luận trên truyền hình truyền thống đã thu hút một lượng khán giả khổng lồ trên khắp cả nước.

Mỗi bên cố gắng giành được sự ủng hộ bằng cách tạo ra khuôn khổ cho sự lựa chọn theo những điều kiện có lợi cho trường hợp của mình. Bush cố gắng chứng minh rằng cuộc chiến ở Iraq là một bộ phận không thể tách rời trong các cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố; Kerry phản bác lại rằng đó chỉ là một mắt xích bị đứt trong công cuộc chống chủ nghĩa khủng bố. Bush lập luận rằng nền kinh tế đang phục hồi nhờ các biện pháp cắt giảm thuế của chính quyền mình; Kerry đáp lại rằng các biện pháp cắt giảm thuế tạo ra những khoản thâm hụt ngân sách, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng về sau này. Các ứng cử viên cũng có quan điểm khác biệt về việc tư nhân hóa chương trình An sinh xã hội, chính sách chăm sóc y tế, bảo vệ môi trường, hôn nhân của người đồng tính và quyền nạo phá thai. Các chiến dịch không chỉ nhằm vào các vấn đề; những điều cũng được đem ra tranh cãi ở đây là tính trung thực, kiên định, khả năng suy xét và tính cách cá nhân của các ứng cử viên. Và họ không chỉ quyết tâm giành được khối óc của người dân: cả hai đã có những nỗ lực to lớn nhằm đưa những người ủng hộ mình đến với các cuộc thăm dò ý kiến, đặc biệt là ở những bang đang do dự mà số phiếu đại cử tri của chúng, theo các số liệu thăm dò, có khả năng dành cho ứng cử viên.

Cuối cùng, mỗi chiến dịch đều nhằm thuyết phục các đa số lớn thuộc đảng của mình trong khi thu hút tương đối ít cử tri từ phía bên kia. Việc lựa chọn bỏ phiếu có liên quan mật thiết đến quan điểm về cuộc chiến ở Iraq; 80% số cử tri nghĩ rằng cuộc chiến này cần được tiến hành đã chọn Bush, 91% cử tri nghĩ theo hướng ngược lại đã chọn Kerry. Nhưng quan điểm về cuộc chiến – và phần lớn các vấn đề tranh luận khác trong khi tranh cử – được quyết định bởi đường lối đảng phái. Kết quả là, 91% số người xác định mình theo Đảng Cộng hòa đã bỏ phiếu cho Bush, và 89% số người coi mình thuộc đảng Dân chủ đã bỏ phiếu cho Kerry, kết hợp với nhau đạt đến mức trung thành đảng phái cao nhất từng được ghi nhận trong lịch sử 52 năm của Viện nghiên cứu bầu cử quốc gia Mỹ. Phần lớn các cuộc thăm dò cho thấy những người không đảng phái ủng hộ Kerry, Bush được tái đắc cử (với tỷ lệ chênh lệch 51,2% trên 48,8% trong số phiếu của hai đảng chính) chủ yếu là bởi vì, mặc dù chiến dịch vận động của Kerry đã vượt quá các mục tiêu về số lượng, song chiến dịch vận động của Bush lại huy động được những người ủng hộ với con số thậm chí còn đông đảo hơn, đặc biệt là tại những bang chủ chốt là Florida và Ohio. Xét tổng thể, mức tham gia vào bầu cử tổng thống đã tăng thêm hơn 17 triệu cử tri trong thời gian từ năm 2000 đến 2004, tỷ lệ có mặt tăng từ 55% lên 60% số người hợp lệ. Bush cũng đã giành thắng lợi bằng cách thuyết phục một bộ phận cử tri nòng cốt nhỏ nhưng có vai trò sống còn rằng ông là một nhà lãnh đạo đáng tin cậy hơn trong cuộc chiến chống khủng bố.

Liênminh của mỗi đảng vào năm 2004 cũng khá giống với các liên minh trong những cuộc bầu cử gần đây. Bush được sự ủng hộ của các cử tri nam giới, người da trắng và những người đã kết hôn; Kerry được ủng hộ bởi đa số phụ nữ, người Mỹ gốc Phi, người gốc Latinh và những người độc thân. Xét theo vùng, các cử tri ở vùng Đông Bắc và nằm trên đường bờ biển Thái Bình Dương ủng hộ Kerry, trong khi những cử tri ở miền Nam, Trung Tây, vùng đồng bằng và các bang miền núi lại ủng hộ Bush. Kerry thắng thế ở các vùng đô thị, trong khi Bush thắng thế ở các vùng nông thôn và tỉnh lẻ. Những khác biệt giai cấp truyền thống đã xuất hiện trở lại; những cử tri có mức thu nhập cao ủng hộ Bush, còn những người có thu nhập thấp ủng hộ Kerry. Nhưng những khác biệt về văn hóa thậm chí còn quan trọng hơn: Bush giành được sự ủng hộ mạnh mẽ từ những người sở hữu súng, những tín đồ tôn giáo nhiệt thành, đặc biệt là những người Cơ đốc giáo Phúc âm; Kerry giành được sự ủng hộ của đa số công dân không có vũ khí và thế tục hơn. Những chia rẽ tương tự cũng là nét đặc trưng của các cử tri Hạ viện và Thượng viện của mỗi trong số hai đảng, những người cũng thể hiện một mức độ trung thành đảng phái cao khác thường vào năm 2004.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s