Điền Kị nghe theo kế sách của Tôn Tẫn, sai Tế Thành và Cao Đường liên kết với Tống, Vệ tấn công Tương Lăng. Tình hình Tương Lăng trở nên nguy cấp, Ngụy Huệ Vương buộc phải lệnh cho Bàng Quyên ngừng đánh Vệ để quay về chi viện cho Tương Lăng. Do binh lực không đủ, lại thêm quân Ngụy quá đông nên chiến dịch Tương Lăng kết thúc với thất bại thảm hại của Tế Thành, Cao Đường.

Tin chiến dịch Tương Lăng đại bại khiến cho Điền Kị ruột gan như lửa đốt, lập tức triệu kiến Tôn Tẫn để hỏi kế sách tiếp theo. Ai ngờ Tôn Tẫn nghe theo chẳng tỏ ra kinh ngạc, lại điềm tĩnh nói: “Không nên căng thẳng, đây là việc đã tính từ trước, bây giờ cuộc chiến mới chính thức bắt đầu”.

Điền Kị nghi hoặc không hiểu hỏi lại: “Việc này nghĩa làm sao?”.

Tôn Tẫn nói: “Lực lượng quân Ngụy rất mạnh, cho dù liên quân Tề, Triệu công kích trong lẫn ngoài cũng chưa chắc đã dành được thắng lợi, lại thêm quân Triệu bị vây khốn trong thành, hai bên không liên lạc được với nhau, khó có thể phối hợp, sức chiến đấu bị kìm hãm. Lực lượng địch quá mạnh, muốn chiến thắng thì phải đánh chỗ hư, tránh chỗ thực. Nhưng chỗ hư của Ngụy ở đâu? Hiện nay quân chủ lực của Ngụy tập trung quanh Hàm Đan, một bộ phận ở Tương Lăng, kinh đô Đại Lương nhất định bỏ trống. Ta chỉ cần trực tiếp đánh vào Đại Lương, Ngụy Huệ Vương tất hoảng hốt mà lệnh cho quân vây Triệu quay về cứu, Hàm Đan tất tự nhiên được giải vây. Đồng thời quân Ngụy trên đường vội vã trở về sức chiến đấu sẽ bị suy yếu, ta chỉ cần cho quân mai phục, đột kích, quân Ngụy mệt mỏi lo giữ mạng sẽ dễ dàng bị đánh bại. Đây gọi là kế một mũi tên trúng hai đích”.

Điền Kị theo đó sai quân lẳng lặng tiến lên, đi về phía Tây tấn công vào Đại Lương. Được tin quân Tề đánh Đại Lương, Ngụy Huệ Vương vô cùng hoảng hốt, lệnh cho Bàng Quyên hỏa tốc đem quân bao vây Hàm Đan về giải cứu cho Đại Lương.

Bàng Quyên được lệnh liền cấp tốc quay về, vòng vây Hàm Đan kéo dài nửa năm cuối cùng được giải tỏa trong chốc lát. Bàng Quyên cho rằng quân Tề đã áp sát Đại Lương, ngờ đâu quân Tề nghe được quân Ngụy đã rút hết liền mai phục ở Quế Lăng (Tây Nam huyện Trường Hoàn ở Hà Nam). Quân Ngụy đang trong lúc cấp bách không phát hiện ra phục binh, chỉ nháy mắt đã rơi vào vòng vây. Hai bên ứng chiến, quân Ngụy đại bại, chết hơn hai vạn, Bàng Quyên may mắn chạy thoát. Bá nghiệp của Ngụy Huệ Vương bị công kích trầm trọng.

Chiến dịch Tương Lăng là một ví dụ huy hoàng trong lịch sử quân sự. Quân Tề lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh, giành được thắng lợi sau cùng, công đầu thuộc về mưu lược khôn ngoan của Tôn Tẫn. Chiến dịch này là sự khẳng định lại và phát triển thêm lý luận quân sự của Tôn Tẫn. Đồng thời nó cũng chỉ ra cho chúng ta một bài học sâu sắc là: Chữ “khó” chỉ có trong từ điển của những kẻ ngu muội.

Giữ kiên định phấn đấu trong nguy nan thì mới có thể phá được cửa ải khó khăn nguy hiểm. Nhẫn nại lao khổ, vào sinh ra tử, không sợ bất kỳ đau đớn nào về thể xác lẫn tinh thần, bằng nghị lực mạnh mẽ nhất, lòng can đảm vững vàng nhất, ngoan cường tiến lên phía trước, chưa đạt được mục đích thì quyết không lùi bước. Đó chính là bí quyết để thành công.

2/ Chờ thời, phải luôn mài giũa ý chí

Tục ngữ có câu: “Cây ngay không sợ chết đứng”. Nếu trong lòng chúng ta không màng vinh hoa phú quý thì sợ gì người khác đem danh lợi để cám dỗ? Nếu chúng ta có lập trường kiên định thì sợ gì bị thao túng? Những người ích kỷ luôn có ham muốn cá nhân buộc phải rào trước đón sau, cái gì cũng sợ, không dám thẳng thắn, không dám làm những việc lớn; còn có những người nhu nhược yếu hèn, khom lưng uốn gối, chỉ biết bợ đỡ, không những chẳng có chút khí phách nào mà suốt đời cũng chẳng có gì đáng lưu truyền.

Vị anh hùng cuối thời Minh phản Thanh – Hạ Hoàn Thuần sau khi bị bắt, Thừa Trù thẩm vấn. Hồng Thừa Trù biết Hạ Hoàn Thuần là người có tài, văn võ song toàn nên có ý khuyên anh ta đầu hàng theo nhà Thanh. Ban đầu Hồng Thừa Trù nói: “Ngươi còn trẻ thế thì hiểu được điều gì, sao lại muốn dấy binh làm phản? Tưởng như vậy có thể làm người tốt hay sao? Thấy ngươi trẻ người non dạ, thật sự đáng thương, chỉ cần chịu quy thuận triều Thanh, ta đảm bảo ngươi sẽ được làm quan”.

Hạ Hoàn Thuần biết rõ người thẩm vấn mình không ai khác chính là đại hảo hán Hồng Thừa Trù, cảm thấy coi thường và bất bình với hành động hèn mạt quy phục triều Thanh của ông ta, giờ lại muốn dụ mình theo giặc thì trong lòng cảm thấy rất khinh bỉ, bèn mắng cho ông ta một trận.

Hạ Hoàn Thuần vờ không quen biết Hồng Thừa Trù lớn tiếng nói: “Ta nghe nói, Hanh cửu tiên sinh (Hồng Thừa Trù) là nhân vật kiệt xuất của nhà Minh, tiên phong xả thân nơi chiến trận vì tổ quốc. Sau khi tiên Hoàng hay tin đã rất thương tiếc, ta tuy trẻ tuổi nhưng cũng thấy rất ngưỡng một sự trung liệt của ông ta, lấy thân mình báo quốc quyết không chịu bỏ cuộc!”

Tùy tùng đứngbên cạnh Hồng Thừa Trù thấy thế tưởng rằng anh ta không biết quan thẩm vấn mình là ai nên hiểu lầm, bèn cho anh hay Hồng Thừa Trù chưa chết mà đã quy thuận triều Thanh, lại được làm quan lớn. Người thẩm vấn anh chính là Hồng đại nhân.

Hạ Hoàn Thuần biết rõ nhưng vẫn chưa muốn “hạ màn”, tiếp tục nói: “Các ngươi nói láo, Hanh cửu tiên sinh từ lâu đã lấy thân mình tận trung báo quốc, chuyện này mọi người đều biết. Khi đó, đích thân tiên hoàng sẽ trừng trị kẻ mạo danh Hanh cửu tiên sinh, làm ô nhục trung hồn, thật là đáng hận!”.

Hồng Thừa Trù vừa buồn vừa xấu hổ, khóc dở mếu dở, mặt ông ta lúc đỏ, lúc tái như ngồi trên đống lửa, liền phẩy tay: “Dẫn đi!” Từ đó không dám thẩm vấn Hạ Hoàn Thuần nữa.

Hạ Hoàn Thuần giả câm giả điếc khiến lương tâm của Hồng Thừa Trù đau như bị roi quất, đồng thời vạch trần một cách sâu sắc sự hèn nhát của hắn.

Trong thực tế, khi bị người khác ác ý nói móc, có thể giả câm giả điếc để đáp lại, không cần phản ứng đối với lời nói và hành động của đối phương, làm như nhìn nhưng không thấy; như vậy có thể tránh được sự chỉ trích của đối phương và khiến cho anh ta không đạt được mục đích, gây cảm giác mù mịt mất phương hướng. Còn ta lại có thể nhân đó tiến hành phản công bằng sức mạnh sẵn có của mình.

Về hình thức, sự phản công của ta có vẻ xa rời sự công kích của đối phương, nhưng trên thực tế lại xuất phát từ chính lời nói của đối phương.

Trong trường hợp giao tiếp đặc biệt nào đó, ta giả câm giả điếc, cũng có thể khiến cho đối phương dao động, gặp trở ngại về tinh thần. Như thế có thể làm giảm uy phong của đối phương.

Mạnh Tử nói: “Cái chết có khi nặng tựa Thái Sơn, nhưng cũng có khi nhẹ tựa lông hồng”. Đây không đơn giản là nói về cái chết bình thường mà là cái chết về khí phách nữa. Phải là một người thực sự hiểu biết mới có thể nói như vậy.

Có người khi chẳng có thành tích gì để đời, nhưng khi chết đi lại có thể hòa hợp với đất trời. Chết như vậy để khẳng định khí tiết của bản thân, để hoàn thiện cuộc sống của mình, chỉ có khí tiết là cội nguồn của đức hạnh, và đức hạnh là cội nguồn của sự tu dưỡng. Sự tu dưỡng được nhắc đến ở đây không phải là học đọc, học viết mà là học đạo lý, làm sáng rõ đạo lý, giữ gìn đạo lý và tu dưỡng đạo lý.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Vietbook – Nghệ thuật nắm bắt cơ hội tùy cơ ứng biến – NXB VHTT 2010.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s