Nếu những chuyến viếng thăm Việt Nam của các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ là khá nhiều (ví dụ như chuyến thăm của Tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương Mỹ vào tháng 12/2014), trợ giúp quân sự của Mỹ dành cho Việt Nam lại rất hạn chế: chưa đầy 1 triệu USD dành để huấn luyện lực lượng tuần tra bờ biển trong khi từ 20 năm nay, 80% chi phí nhập khẩu vũ khí vào Việt Nam đến từ Nga. Cũng chính Nga là nước đóng góp vào việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam. Việt Nam là một trong những nước chịu nguy cơ nhiều nhất của các cuộc tấn công mạng (nhất là từ các tội phạm mạng Trung Quốc). Mỹ đã hứa hẹn một sự trợ giúp, nhưng thật khó tưởng tượng việc một chế độ chính trị giới hạn tự do Internet lại giao cho Mỹ việc bảo vệ hạ tầng mạng quốc gia đó. Phía Mỹ luôn nhắc đi nhắc lại rằng họ không thúc đẩy Việt Nam gia tăng các mối liên hệ quân sự và họ chỉ lắng nghe những mong muốn của phía Việt Nam mà thôi, nhưng Hà Nội lại có cảm giác rằng Mỹ thích thúc đẩy quá nhanh và điều này có thể kích động Trung Quốc. Việt Nam không muốn quá phụ thuộc vào một đồng minh nữa, như trường hợp với Trung Quốc trong những năm 1950 – 1960 và với Liên Xô trước đây trong những năm 1980, dù ngay cả khi Việt Nam, cuối cùng, đã tỏ ra khéo léo trong việc “điều khiển” các “ông chủ” của mình và khiến Moskva và Bắc Kinh ở vào thế cạnh tranh với nhau. Khi xảy ra vụ việc “trừng phạt” của Trung Quốc đối với Việt Nam vào năm 1979, Việt Nam khi đó đã không thể trông chờ vào đồng minh là Liên Xô. Còn đó cả bài học từ Hội nghị Geneva “đầy nan giải” năm 1954, cam go giống với Hội nghị Yalta, nơi mà các cường quốc ngấm ngầm mặc cả, thỏa thuận với nhau trên lưng các nước nhỏ. Ngoài ra còn có thêm cả “cú sốc Nixon” mà Nhật Bản và Đài Loan đã trải qua khi Mỹ và Trung Quốc xích lại gần nhau trong những năm 1970, khả năng tồn tại đồng minh Trung – Mỹ mà những nước nhỏ phải chịu thiệt thòi. Các nhà lãnh đạo Việt Nam cho rằng những cuộc tấn công của Trung Quốc năm 1974 và 1988 lên các hòn đảo tranh chấp đã diễn ra khi những cường quốc là Mỹ, rồi Liên Xô bỏ rơi đồng minh Việt Nam của họ và xích lại gần với Trung Quốc. Những bài thuyết trình về mối liên kết Mỹ – Trung hay nhóm G2 hồi những năm 2010 đã nói lên khả năng này. Một quan hệ liên minh hình thức hơn với Mỹ có thể gây ra hai nỗi đau xưa cũ, một là nỗi sợ bị đồng minh dẫn dắt đi quá xa và hai là nỗi sợ bị đồng minh bỏ rơi.

Những giới hạn của mối quan hệ đối tác với Mỹ gắn với một chiến lược ngoại giao đa phương của Việt Nam

Mục đích của Việt Nam từ 25 năm nay là đa dạng hóa và đa phương hóa các mối quan hệ kinh tế. Để không bị xuống hạng về mặt kinh tế, cần phải chấp nhận phụ thuộc lẫn nhau và lợi dụng sự năng động của kinh tế khu vực. Năm 1993 đánh dấu việc Việt Nam gia nhập các thể chế phương Tây như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển châu Á (ADB). Năm 1995, Việt Nam gia nhập ASEAN. Từ nay, Việt Nam có thể sử dụng sức mạnh tập thể này để bảo đảm an ninh khu vực, tạo điều kiện cho quá trình quốc tế hóa của mình, thậm chí là tham dự việc lãnh đạo khu vực. Cần có một chiến lược ngoại giao đa phương, một khái niệm mới do Moskva đặt ra, với những quan hệ đa dạng, điều khá bị lạm dụng tại Việt Nam và có thể gọi tên là “logic ngoại giao Bismarck” hay nói cách khác là duy trì ngoại giao hữu hảo với các quốc gia trong khu vực.

Mục đích của Việt Nam là đạt đến vị trí nước được hưởng lợi trong khu vực Đông Nam Á. Vậy nên, ở Biển Đông, những hợp đồng nhượng quyền dầu khí đã được phân chia cho ExxonMobil Mỹ, ONGC Ấn Độ, Gazprom và Rosneft Nga. Bắc Kinh đã gây sức với Nga để chấm dứt các hợp đồng sản xuất nhưng không thành công. Không cần phải lôi kéo những cường quốc bên ngoài, những cường quốc này thường luôn sẵn sàng. Càng ngày càng hiện hữu câu hỏi về một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Từ năm 2011 đến 2013, khái niệm khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương được sử dụng trong những phát biểu và tài liệu chính thức ở Ấn Độ, Nhật Bản, Indonesia và Australia. Ở Mỹ, khái niệm Ấn Độ Dương, châu Á – Thái Bình Dương đang bắt đầu phát triển mạnh mẽ, nhất là trong lĩnh vực hải quân. Trong mọi trường hợp, Đông Nam Á thực tế đang trở thành trọng tâm của khu vực. Dù có những cảnh báo về cái nhìn quá lạc quan đối với sự tăng trưởng của châu Á, EU, nhất là Đức, Anh hay Pháp, vẫn tìm cách xoay trục về châu lục này, đồng thời vẫn giữ thái độ rất thận trọng với những tranh chấp trên Biển Đông. Ấn Độ và Nhật Bản nhìn về Đông Nam Á với những lý do chiến lược hơn là những lý do kinh tế như hồi những năm 1980 – 1990. Tháng 1/2015, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe dự định tiến hành các chiến dịch tuần tra trên Biển Đông, điều khiển giới chức Trung Quốc đi đến thông báo sẽ lập Vùng nhận dạng phòng không trên vùng biển này như đã từng làm với vùng biển Hoa Đông, dẫn đến nhiều rắc rối ngoại giao. Bộ Quốc phòng Mỹ có vẻ quan tâm đến sự việc trong khi Bộ Ngoại giao thì lại phản đối sự việc này. Nhật Bản xích lại gần Philippines, quan hệ Hà Nội và Manila cải thiện nhanh chóng bỏ qua những tranh chấp lãnh thổ. Một số người đã tưởng tượng ra một trục liên minh Nhật Bản – Philippines – Việt Nam vì Tokyo còn cung cấp tàu tuần tra cho cả hai nước nói trên. Và còn cả vấn đề xoay trục sang châu Á của Nga từ năm 2011. Moskva đang hoàn tất việc giao cho Việt Nam 6 tàu ngầm khiến quốc gia này có một vị trí mới về hải quân. Việt Nam là nước đầu tiên ký kết hiệp định thương mại tự do với Liên minh kinh tế Á – Âu.

Những giới hạn của quan hệ đối tác với Mỹ gắn với những ưu tiên trong mối quan hệ với Trung Quốc

Chiến lược đối ngoại đa phương của Việt Nam, không liên minh với một nước thứ ba cũng là cách để làm yên lòng Trung Quốc. Một sự tôn trọng duy nhất và thực sự đối với Trung Quốc, điều này một lần nữa cho thấy sự tồn tại dai dẳng của mối quan hệ không cân xứng, đồng thời cũng là sự kết nối với một thứ văn hóa vốn quen thuộc hơn so với mối quan hệ với Mỹ và hơn nữa, điều này cũng cho phép có những mối quan hệ hòa bình và hài hòa hơn. Việt Nam dường như là một kinh nghiệm, điều thu được đối với Trung Quốc, tuy nhiên kinh nghiệm này lại ít được dùng trong khuôn khổ sự tấn công văn hóa mạnh mẽ của Trung Quốc tại khu vực hồi năm 2000: Không một Viện Khổng từ nào được thành lập ở Việt Nam. Việt Nam luôn sẵn sàng đối thoại song phương với Bắc Kinh: suốt thời gian diễn ra cuộc khủng hoảng 2014, các lãnh đạo của Việt Nam luôn quan tâm đến việc khởi động đường dây nóng với Bắc Kinh và gửi đặc phái viên để đối thoại với Trung Quốc. Hà Nội tỏ ra đồng ý để tránh kiểu “ngoại giaotăng âm” (ngoại giao thông qua các phương tiện thông tin đại chúng). Rất khó để trông cậy vào tình đoàn kết ASEAN mà Trung Quốc luôn tìm cách chia rẽ. Việt Nam sẽ không đi xa như Philippines trong vụ tranh chấp với Trung Quốc. Việt Nam sẽ không mang vụ việc ra Tòa án trọng tài thường trực tại La Hay (Hà Lan), nhưng vẫn nêu rõ lập trường của mình và bác bỏ “đường 9 đoạn” mà Bắc Kinh luôn rêu rao. Về phần mình, Mỹ không muốn để bị dẫn dắt trong một chiến lược ngắn hạn. Sự “gặm nhấm” trong vấn đề biển của Trung Quốc có thể đặt ra những vấn đề giống với việc “gặm nhấm” đất đai của Nga tại Ukraine và trở thành một cơn ác mộng đối với Washington. Trung Quốc, vốn bị tố cáo là trở nên quyết đoán hơn, cũng có thể chơi con bài quyến rũ và sử dụng chính sách củ cà rốt, gây cản trở việc ra khỏi quỹ đạo của mình. Chẳng hạn như cuối năm 2014, Chủ tịch Trung Quốc khởi xướng giấc mộng châu Á – Thái Bình Dương như trên hết là con đường tơ lụa trên biển (khởi động vào mùa Xuân 2013) và Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB). Mỹ không thể cạnh tranh với hàng chục tỷ mà Trung Quốc chi ra cho chiến lược ngoại giao cơ sở hạ tầng, như trong khu vực sông Mekong. Mục đích của Trung Quốc không chỉ là bao bọc khu vực trong một loạt thỏa thuận kinh tế, cấu trúc hợp tác và thiết bị quân sự… hay kiểm soát những vị trí như trong trò chơi cờ vây, nhưng ngay lúc này đây Bắc Kinh có thể cung cấp “tài sản công” mà tất cả mọi chủ thể chủ chốt trong khu vực đều có thể sử dụng.

Kết luận

Dù ở Mỹ, những người ủng hộ chính sách cứng rắn ngăn chặn Trung Quốc có mong đợi đến đâu, ít có khả năng một mối quan hệt chặt chẽ với Việt Nam trở thành hiện thực. Người dân Việt Nam là những người lạc quan nhất Đông Nam Á với niềm tin mạnh mẽ vào hiệu năng của các mối giao thương. Nhưng Việt Nam, được so sánh với những quốc gia tầm trung trong khu vực, sẽ không coi Mỹ như một “siêu đối tác” cần thiết trước nước láng giềng phương Bắc. Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện, đối với Trung Quốc, một chiến lược tổ hợp phức tạp pha trộn giữa sự tôn trọng, tình đoàn kết, chính sách tái cân bằng, các mối quan hệ ngoại giao đan xen với nhiều nước, Việt Nam vẫn sẽ phụ thuộc về mặt kinh tế với Trung Quốc và sẽ lo lắng với những hành động lấn át của nước láng giềng phương Bắc. Trung Quốc sẽ vẫn quyết đoán vì lẽ “đường 9 đoạn” đã trở thành một “điều thiêng liêng từ ngàn đời”. Chiến lược an ninh quốc gia Mỹ vào tháng 2/2015 chỉ ra rằng chính sách tái cân bằng với châu Á vẫn được tiếp tục mặc dù có những cuộc khủng hoảng ở Trung Đông và Ukraine. Ngoại giao hải quân sẽ cho thấy những phức tạp ngày càng gia tăng trong chính sách của những cường quốc tại khu vực.

Nguồn: Tạp chí Herodote (Pháp) – số 157

TLTKĐB – 21 & 22/05/2016

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s