Khi giành thắng lợi, tổng thống lập tức khẳng định sứ mệnh thực thi tất cả những chính sách mà ông đã chủ trương ủng hộ trong chiến dịch vận động của mình, và ông nhanh chóng đề nghị những cải cách cấp tiến đối với hệ thống An sinh xã hội, biểu thuế, chính sách chăm sóc y tế, và luật pháp liên quan đến các vụ kiện về hành động giai cấp. Mặc dù lời khẳng định này, như mọi khi, là không chắc chắn (lá phiếu bầu không hề hàm ý sự ủng hộ cho những gói chính sách cụ thể, và sứ mệnh không thể tranh cãi duy nhất của Bush là tiếp tục bảo vệ lãnh thổ nước Mỹ trước những cuộc tấn công khủng bố), song dù sao nó cũng định hình nên chương trình nghị sự cho Quốc hội khóa tiếp theo, nơi mà việc đắc cử đã giúp củng cố sự kiểm soát của Đảng Cộng hòa. Một sự sắp đặt gian lận thành công của Đảng Cộng hòa ở Texas đã bù đắp cho những thiệt hại ở các nơi khác để làm tăng đa số Cộng hòa trong Hạ viện thêm ba ghế, lên tới 232 – 212; những người Cộng hòa cũng kiếm thêm được bốn ghế trong Thượng viện để giành được đa số 55 – 44 (mỗi viện cũng đã bầu ra một người độc lập, người sẽ biểu quyết cùng những người Dân chủ). Với tỷ lệ chênh lệch nhỏ nhưng mang tính quyết định, người dân Mỹ đã gia hạn hợp đồng với người đại diện của mình thêm một nhiệm kỳ nữa, đặt ra các thông số cho những lựa chọn chính sách quan trọng về chiến tranh và hòa bình và tương lai tài chính của đất nước (và của chính họ).

Như ví dụ về năm 2004 cho thấy, các cuộc bầu cử tạo nên những mối liên hệ chủ yếu giữa công luận và hành động của chính phủ ở Mỹ. Chúng không chỉ htôi thúc các quan chức được bầu quan tâm tới ý kiến của cử tri khi đưa ra những lựa chọn chính sách, mà còn tạo ra lý do để các công dân hình thành nên quan điểm về các vấn đề và các ứng cử viên. Đối với các ứng cử viên, công luận đóng vai trò như một nguồn nguyên liệu thô cho nền chính trị bầu cử. Như chúng ta thấy, người dân Mỹ bị chia rẽ trên rất nhiều vấn đề chính trị. Thông thường, những chia rẽ không có các mô hình nhất quán; các nhóm khác nhau đồng ý với nhau về những vấn đề khác nhau. Thách thức đối với mỗi ứng cử viên là tìm ra những cách để thuyết phục cử tri với những quan điểm khác nhau và thường xung đột nhau nhất trí về một hành động chung, đó là bỏ phiếu cho ứng cử viên đó. Xây dựng các liên minh – làm cho mọi người nhất trí về hành động ngay cả khi không nhất trí về các mục tiêu của hành động – chính là nội dung của chính trị đa nguyên, và điều này cũng quan trọng với nền chính trị bầu cử ngang bằng với việc cai quản đất nước. Thách thức đối với các cử tri là chọn ra ứng cử viên nào phù hợp nhất để phục vụ cho lợi ích và đại diện cho các giá trị của họ. Cách mà các cử tri và ứng cử viên cố gắng giải quyết những thách thức chính là chủ đề của bài này. Tuy nhiên, để bắt đầu, chúng ta cần xem xét lôgích của các cuộc bầu cử và lịch sử phát triển của chúng ở nước Mỹ.

Lôgích của các cuộc bầu cử

Nền dân chủ ở Mỹ là nền dân chủ đại nghị. James Madison, khi bảo vệ cho Hiến pháp trong Người liên bang số 10, đã chọn dùng từ cộng hòa để nhấn mạnh đến nét đặc trưng giữa nền dân chủ theo cách mà người Mỹ ở thế kỷ XVIII nhìn nhận và hệ thống mới được đề nghị:

Hai điểm khác biệt lớn giữa một nền dân chủ và một nền cộng hòa là: thứ nhật, việc ủy nhiệm của chính quyền, ở nền cộng hòa, cho một nhóm nhỏ các công dân được bầu ra bởi những người còn lại; thứ hai, số công dân lớn hơn, và phạm vi đất nước rộng hơn, theo đó nền cộng hòa có thể được mở rộng.

Diện tích tuyệt đối của quốc gia mới này làm cho việc tự cai quản bằng nền dân chủ trực tiếp trở nên không thể thực hiện được (hãy tưởng tượng các chi phí giao dịch). Nếu như người dân Mỹ muốn tự cai trị mình, họ sẽ phải làm điều đó một cách gián tiếp thông qua việc ủy thác quyền lực cho một nhóm nhỏ những người thụ ủy đại diện. Nhưng việc ủy nhiệm gây ra một nguy cơ không thể tránh khỏi, điều mà Madison lập tức nhận thấy, rằng những người thụ ủy này có thể sử dụng quyền hạn của mình để phục vụ cho bản thân hơn là cho những người mà họ có sứ mệnh phải đại diện: “Những con người có tính khí nóng nảy, có thành kiến địa phương, có tâm địa độc ác có thể, bằng mưu đồ của mình, bằng sự tham nhũng hay bằng những phương tiện khác, trước hết giành được phiếu bầu, và sau đó phản bội lại lợi ích của người dân”.

Như đã nêu, bất kỳ sự ủy nhiệm quyền lực nào đều làm dấy lên khả năng về tổn thất của việc đại diện. Bất cứ khi nào ủy quyền cho một ai đó hành động thay mặt mình, chúng ta thờng phải đối mặt với nguy cơ là họ sẽ đặt lợi ích của họ lên cao hơn hơn lợi ích của chúng ta. Tệ hơn nữa, thật khó mà nói liệu họ có phải là những người thụ ủy chân tành hay không bởi vì chúng ta không thể thấy những gì họ làm hoặc không thể biết tại sao họ đang làm việc đó. Vấn đề ủy quyền không có những giải pháp hoàn hảo. Một giải pháp hiệu quả, nhưng không hoàn hảo, mà các nền dân chủ đại nghị theo đuổi là tiến hành các cuộc bầu cử định kỳ, tự do và có tính cạnh tranh. Các cuộc bầu cử có tác dụng cải thiện vấn đề ủy nhiệm theo một số cách. Thứ nhất, chúng trao cho những người dân thường tiếng nói trong việc quyết định ai đại diện cho họ. Thứ hai, triển vọng của các cuộc bầu cử về sau này thường mang lại cho những người đương nhiệm – người muốn giữ (hay thăng tiến trong) công việc của mình – động cơ trở thành những người thụ ủy có khả năng đáp ứng. Và thứ ba, các cuộc bầu cử tạo ra những động lực mạnh mẽ để một tập hợp nhỏ các công dân muốn thay thế những người đương nhiệm để giám sát gắt gao những người đại diện và nói cho mọi người khác biết về hành vi sai trái của người đại diện mà họ phát hiện được.

Các cuộc bầu cử không bảo đảm cho sự đại diện chân chính; quả thực, nhiều người Mỹ ngày nay không cảm thấy được đại diện một cách đúng đắn (xem Hình 10 – 8), ngay cả khi nước Mỹ tiến hành nhiều cuộc bầu cử cho các vị trí công quyền hơn so với bất kỳ nước nào khác trên thế giới. Nhưng nếu không có những cuộc bầu cử định kỳ, tự do và mang tính cạnh tranh thì càng có nhiều khả năng là những người dân thường sẽ không được đại diện một cách thỏa đáng. Các cuộc bầu cử mang tính cạnh tranh trong đó hầu như mọi công dân trưởng thành đều đủ tư cách bỏ phiếu là nét đặc trưng của các chính quyền dân chủ hiện đại.

Quyền bỏ phiếu

Thông lệ lựa chọn các nhà lãnh đạo bằng lá phiếu bầu đến Bắc Mỹ cùng với những định cư đầu tiên đến từ Anh. Và thông lệ hạn chế quyền bỏ phiếu cũng vậy. Mọi thuộc địa đều đặt ra một tiêu chuẩn về tài sản để được bỏ phiếu, và nhiều thuộc địa từ chối quyền bầu cử đối với những người Thiên Chúa giáo, người Do Thái, người Mỹ bản xứ và các nô lệ da đen được giải phóng. Không một thuộc địa nào cho phép phụ nữ được bỏ phiếu.

Nhiều biện pháp hạn chế trong số này vẫn còn nguyên vẹn qua cuộc Cách mạng; chỉ có một nửa số dân cư nam giới trưởng thành, tự do đủ tư cách bỏ phiếu vào thời điểm Hiến pháp được thông qua. Kể từ thời điểm đó, câu chuyện này luôn có những tiến triển, dù đôi khi chậm đến mức đáng thất vọng, để mở rộng quyền bỏ phiếu cho hầu như mọi công dân trưởng thành (được định nghĩa là những người đã mừng sinh nhật lần thứ 18 của mình) không ở trong tù hay các bệnh viện tâm thần. Mọi sự mở rộng quyền bỏ phiếu đều phải vượt qua cả những trở ngại về triết lý lẫn sự phản đối bắt nguồn từ những tính toán thế tục về lợi ích chính trị. Sự thắng lợi của quyền bỏ phiếu (gần như) phổ thông đối với công dân trưởng thành phản ánh sức lôi cuốn mạnh mẽ của các ý tưởng dân chủ, kết hợp với những thay đổi xã hội sâu sắc, những cuộc đấu tranh của các nhà vận động tận tâm, và sự tranh giành phiếu bầu không ngớt của các chính trị gia.

Quyền bỏ phiếu rộng hơn cho nam giới

Những yêu cầu về sở hữu tài sản và biện pháp hạn chế quyền bỏ phiếu được mang đến từ nước Anh trong thời kỳ thuộc địa phản ánh những thực trạng xã hội cơ bản ở đó. Hầu hết những người trưởng thành đều nghèo, mù chữ và sống lệ thuộc; họ là những đầy tớ, người giúp việc, người làm thuê và người khốn cùng. Các thành viên của tầng lớp thượng lưu chiếm thiểu số – giới tinh hoa có nguồn gốc xuất thân tốt, giàu có và có trình độ giáo dục – coi mình đương nhiên có quyền bỏ phiếu. Họ không có ý định đem lại rủi ro cho trật tự xã hội hiện hành, một trật tự phục vụ rất tốt cho lợi ích của họ, bằng cách mở rộng quyền bỏ phiếu cho những người mà chỉ được hưởng lợi ích khi thay đổi trật tự này. Khoảng cách vượt Đại Tây Dương đã mang lại một số biến đổi nhất định trong những yêu cầu về sở hữu tài sản. Đất đai ở các vùng thuộc địa dễ có và được phân phối công bằng hơn nhiều so với ở Anh, vì vậy có một tỷ lệ người trưởng thành lớn hơn đủ tư cách bỏ phiếu. Tại những cộng đồng thuộc địa dễ thay đổi hơn, những biện pháp hạn chế sở hữu tài sản nếu có cũng được thực thi rất lỏng lẻo. Tính đến thời kỳ cách mạng, bất kỳ quý ông “đáng kính” nào – nghĩa làngười da trắng, theo Đạo Tin lành và có những công việc đem lại lợi nhuận – trên thực tế đều được phép bỏ phiếu ở nhiều nơi.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s