Cuộc Chiến tranh Cách mạng đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhu cầu mở rộng quyền bỏ phiếu. Khẩu hiệu tập hợp quần chúng chống lại nước Anh “không đóng thuế nếu không có đại diện”, ban đầu là lời đề nghị tự quản, hàm ý rằng bất kỳ ai đóng thuế đều phải có quyền bỏ phiếu. Những người đàn ông chấp nhận nguy hiểm đến tính mạng trong chiến đấu giành độc lập cảm thấy mình đủ tư cách trở thành công dân chính trị đầy đủ bất kể tài sản mình có bao nhiêu. Quan trọng hơn và lâu dài hơn, những tuyên bố rõ ràng trong Tuyên ngôn độc lập rằng “mọi người sinh ra đều bình đẳng” và được hưởng những quyền không thể phủ nhận là “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và rằng các chính quyền “có được quyền lực chính đáng của mình từ sự nhất trí của những người bị trị” đã khiến không còn lý do nào để từ chối quyền bỏ phiếu của bất kỳ công dân nào.

Tuy nhiên, quyền phổ thông đầu phiếu cho nam giới (da trắng) là điều chỉ có thể đạt được kể từ thập niên 1840 sau sự thắng thế của nền dân chủ kiểu Jackson. Lời biện hộ cuối cùng cho các biện pháp hạn chế quyền bỏ phiếu dựa trên lập luận truyền thống: những người không có lợi ích bị ảnh hưởng trong trật tự xã hội không nên có tiếng nói trong việc cai quản trật tự đó. Nếu như mọi người đều được cho phép bỏ phiếu, thì lá phiếu của những người sống phụ thuộc vào người giàu – các nhân viên, tá điền, đầy tớ và thợ học nghề – sẽ bị kiểm soát bởi những người bảo trợ cho họ, qua đó càng nâng cao quyền lực của người giàu. Nếu như, để tránh một ảnh hưởng không hay ho như vậy, một chế độ bỏ phiếu kín được sử dụng, thì những người dân nghèo đông đảo hơn có thể ủng hộ những kẻ mị dân không mấy chân thật khi những kẻ này đề ra những kế hoạch phân phối tài sản. Lập luận ủng hộ việc hạn chế quyền bỏ phiếu có thể nói ngắn gọn thế này: chỉ có những người độc lập và có đạo đức mới phù hợp cho việc cai quản, và bằng chứng rõ nhất về sự độc lập và đạo đức là một nam giới da trắng, theo Đạo Tin lành, có tài sản sở hữu.

Tuy nhiên, quan điểm này đã dần phải nhường chỗ cho lập luận ủng hộ quyền bình đẳng chính trị hàm ý trong Tuyên ngôn độc lập, và việc chống lại quyền phổ thông đầu phiếu cho nam giới trở thành một nguy cơ chính trị. Bộ phận cử tri càng dân chủ, thì việc chống lại mở rộng dân chủ càng có nghĩa là tự sát về chính trị. Nhà quan sát người Pháp Alexis de Tocqueville đã nhận xét với sự rõ ràng vốn có của mình:

Không có thêm một quy tắc bất biến nào trong lịch sử xã hội: quyền bầu cử càng được mở rộng thêm, thì nhu cầu mở rộng chúng càng lớn thêm; nói vậy là vì sau mỗi lần nhượng bộ thì sức mạnh của nền dân chủ lại tăng thêm, và các nhu cầu của nó cũng tăng lên cùng với sức mạnh này… Nhượng bộ tiếp theo nhượng bộ, và không có gì ngăn cản nổi quyền phổ thông đầu phiếu.

Quyền bỏ phiếu cho phụ nữ

Như Tocqueville đã nhận xét một cách đúng đắn, lôgích dân chủ biện minh cho việc trao quyền bỏ phiếu cho tất cả nam giới da trắng không dừng lại ở đó; nó còn nuôi dưỡng những yêu cầu rằng tất cả mọi công dân trưởng thành, bất kể chủng tộc hay giới tính, đều đủ tư cách bỏ phiếu. Trong hơn một thế kỷ, chủng tộc, giới tính và thiết chế nô lệ đã tương tác với nhau để làm phức tạp thêm hoạt động chính trị về quyền bỏ phiếu. Phong trào đòi quyền bầu cử cho phụ nữ phát triển lên từ phong trào chống chế độ nô lệ, chia sẻ những lý tưởng cơ bản và cả một số nhà vận động của nó. Những người đấu tranh mở rộng quyền bầu cử cảm thấy bị phản bội khi các tu chính án của thời kỳ Nội chiến (chính thức, nếu không muốn nói là trên thực tế) trao quyền bầu cử cho những người da đen mới được giải phóng, nhưng lại không trao cho các phụ nữ da trắng, cũng như da đen. Nỗ lực nhìn chung là thành công của những người da trắng miền Nam nhằm đẩy người da đen ra khỏi thành phần cử tri sau khi kết thúc công cuộc Tái thiết đã đặt ra một trở ngại to lớn cho việc mang lại quyền bỏ phiếu cho phụ nữ. Những người da trắng miền Nam chống lại bất kỳ hành động nào có thể hướng sự chú ý của cả nước vào những thông lệ bầu cử mang tính áp chế tại địa phương. Như một thượng nghị sĩ bang Mississippi đã nói một cách thẳng thắn vào thập niên 1880, “Chúng ta không ngại đánh đập tơi bời một người đàn ông da đen nếu như anh ta dám cả gan bỏ phiếu, nhưng chúng ta không thể đối xử với phụ nữ, kể cả phụ nữ da đen theo cách đó. Không, chúng ta sẽ không cho phép phụ nữ có quyền bỏ phiếu. Điều này có thể là đúng, nhưng chúng ta se “Chúng ta không ngại đánh đập tơi bời một người đàn ông da đen nếu như anh ta dám cả gan bỏ phiếu, nhưng chúng ta không thể đối xử với phụ nữ, kể cả phụ nữ da đen theo cách đó. Không, chúng ta sẽ không cho phép phụ nữ có quyền bỏ phiếu. Điều này có thể là đúng, nhưng chúng ta sẽ không làm”.

Thái độ chống lại quyền bỏ phiếu dành cho phụ nữ dần dần đã được vượt qua nhờ một sự kết hợp giữa thay đổi xã hội – việc mở rộng giáo dục cho cả hai giới, việc phụ nữ bước vào lực lượng lao động ngoài phạm vi gia đình – với nhu cầu chính trị. Các vùng lãnh thổ miền Tây (sau này là các abgn) là những nơi đầu tiên trao cho phụ nữ quyền bỏ phiếu, không phải bởi vì những nơi như Wyoming và Utah là những vườn ươm màu mỡ cho nền dân chủ cấp tiến mà bởi vì phụ nữ được kỳ vọng sẽ biểu quyết cho “các giá trị gia đình” tại các cộng đồng biên giới khắc nghiệt. Chiến dịch vận động cho quyền bỏ phiếu của phụ nữ đôi khi đề cao tính bản địa, đề xuất dùng lá phiếu của phụ nữ để giữ gìn nền văn minh Anglo-Saxon; trên thực tế, rất nhiều người đấu tranh đòi mở rộng quyền bỏ phiếu không phản đối các bài kiểm tra khả năng đọc viết, mức thuế trưng cầu và những công cụ khác được thiết kế nhằm làm cho những người “không thích hợp” không thể tham gia vào bộ phận cử tri. Khi quyền bỏ phiếu của phụ nữ phát triển ở các cấp bang và địa phương, những chính trị gia đang cạnh tranh giành lá phiếu của phụ nữ tất yếu sẽ đấu tranh cho việc mở rộng thêm nữa quyền này. Một khi các chính trị gia đảng phái đã cảm nhận được xu hướng không thể cưỡng lại này, họ liền tranh giành để bảo đảm rằng đảng của họ không bị mang tiếng xấu là đứng ngáng đường. Chỉ có những người Dân chủ miền Nam là chống lại đến cùng; việc bảo vệ ưu thế tuyệt đối của người da trắng đã dính líu đến mọi thứ khác nữa. Tu chính án thứ mười chín của Hiến pháp, được thông qua năm 1920, cuối cùng, cũng bảo đảm rằng phụ nữ ở mọi nơi đều có quyền bỏ phiếu.

Quyền bỏ phiếu cho người Mỹ gốc Phi và thanh niên Mỹ

Chấp nhận việc phê chuẩn các tu chính án của thời kỳ Nội chiến, việc mở rộng trên thực tế quyền bỏ phiếu cho người da đen và các nhóm thiểu số khác diễn ra muộn hơn nhiều, và cũng lại do kết quả của những thay đổi xã hội và các động cơ chính trị mà chúng tạo ra. Được hoàn thiện bằng điểm mốc ra đời Đạo luật về quyền bỏ phiếu năm 1965.

Đợt mở rộng quyền bầu cử gần đây nhất – Tu chính án thứ hai mươi sáu (1971), là tu chính án hạ độ tuổi đủ tư cách bỏ phiếu xuống còn 18 – cũng là một động lực chính trị, một động lực do cuộc chiến tranh ở Việt Nam mang lại. ý tưởng này đã thu hút được các nhà hoạt động phản chiến, bởi những thanh niên trẻ đóng vai trò nổi bật trong phong trào của họ. Những chính trị gia từng ủng hộ cuộ chiến cũng tán thành tu chính án này bởi nó trao quyền bầu cử cho những người lính đang chiến đấu ở Việt Nam. Phong trào này bắt rễ từ lôgích được dấy lên sau cuộc Chiến tranh Cách mạng rằng những người chấp nhận chịu nguy hiểm cho mạng sống của mình trên chiến trường cần phải có được một tiếng nói trong việc cai quản đất nước mà họ đang bảo vệ.

Mặc dù vậy, hãy xem xét những hệ quả không được bảo đảm từ việc mở rộng chính thức quyền bỏ phiếu. Những người không có tài ản không tước đoạt của những người có tài sản; như vậy chi phí tuân thủ mà những người bảo vệ việc hạn chế quyền bỏ phiếu lo sợ không bao giờ được hiện thực hóa. Trao quyền bỏ phiếu cho phụ nữ không lập tức chuyển hóa nền chính trị bầu cử theo bất kỳ cách thức có thể đo lường nào: không có một mô hình bỏ phiếu đặc trưng nào của phụ nữ bộc lộ rõ trước thập niên 1980, sau khi có sự gia tăng nhanh chóng tỷ lệ phụ nữ lao động độc thân trong bộ phận cử tri. Hệ quả có thể nhận thấy rõ duy nhất của việc trao quyền bỏ phiếu cho công dân đủ 18 tuổi là sự sụt giảm tỷ lệ phần trăm cử tri đủ điều kiện tham gia bỏ phiếu. Các tu chính án thứ mười bốn và mười lăm không ngăn cản được một thế kỷ phân biệt chủng tộc tại nơi bỏ phiếu. Chỉ có Đạo luật về quyền bầu cử mới đạt được mục tiêu này một cách nhanh chóng và hiệu quả. Tuy vậy, ý tưởng dân chủ vẫn chưa đạt tới những giới hạn về mặt lôgích của nó. Một số nhà hoạt động đề xuất việc trao quyền bỏ phiếu cho trẻ em và những người cư trú ở Mỹ nhưng không phải là công dân, thậm chí cả những người vi phạm pháp luật ở Hoa Kỳ. Trong nước Mỹ đương đại, khẩu hiệu “không đóng thuế nếu không có đại diện” hàm ý quyền bỏ phiếu rộng khắp đáng kể.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s