Ai học nhanh hơn, người đó phát triển nhanh hơn và có thể dạy những người khác.

Chủ nghĩa tư bản hiện tại đòi hỏi phải học nhanh. Chủ nghĩa tư bản – mặc dù là một chế độ dễ sợ, bắt người ta phải lao động vất vả – là một hệ thống hợp lý hơn bất cứ một hệ thống kinh tế nào khác. Tuy nhiên nó chưa bao giờ và sẽ không bao giờ là hoàn toàn hợp lý. Rất có thể hiện tại nó ít hợp lý hơn so với nhiều giai đoạn khác trong lịch sử tiến hóa của mình. Đúng là, trong một giai đoạn phát triển sức sản xuất nhất định – trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực và kỹ thuật sản xuất – nó trở nên hợp lý hơn so với chế độ phong kiến trước đó hoặc các hình thức kinh tế tự phát không tạo ra hàng hóa để bán thông qua thị trường và tiền tệ, mà chỉ phục vụ cho những nhu cầu của bản thân người sản xuất. Trong đối đầu với hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa, cũng có lúc nó được coi là hợp lý hơn, có lúc ít hợp lý hơn. Tuy nhiên, chưa bao giờ và sẽ không bao giờ chủ nghĩa tư bản được coi là hợp lý trong những phạm trù mang tính logic hành động thuần túy. Bỏ qua sự thiếu hụt khả năng tự xoay xở với những vấn đề mang tính trường kỳ liên quan tới khai thác môi trường tự nhiên, chỉ cần một mặt, nhớ lại những khoản chi khổng lồ cho quảng cáo vô ích, lãng phí và thường là ngu xuẩn của người mua hoặc là mặt khác, việc không tận dụng sức sản xuất hiện có với thất nghiệp do cơ cấu đi kèm với nó.

Sự vô lý của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở khu vực kinh tế dẫn tới tình trạng là, trước hết, nếu như tất cả mọi thứ – kể cả hàng kém chất lượng – đều có thể dễ dàng bán (một số hàng hóa khan hiếm, mà thị trường tư bản không chấp nhận bởi coi là hàng bị loại, thì ở đây lại được coi là chất lượng tốt và được bán đắt như tôm tươi), thì vấn đề mua nhiều khi lại vô cùng khó khăn. Kể cả đối với phương tiện sản xuất cũng như đối với hàng tiêu dùng. Trong trường hợp của chủ nghĩa tư bản, có thể mua tất cả mọi thứ một cách dễ dàng (nếu như có tiền, đương nhiên), trong khi bán lại là một vấn đề không nhỏ. Trong khi người này không đủ tiền để mua những sản phẩm và dịch vụ mình mong muốn, đôi khi là thiết yếu nhất, thì nhiều người khác (và ngày càng nhiều hơn) được biên chế vào những bộ phận marketing cảm thấy lúng túng, không biết phải làm sao để đẩy được hàng hóa ra thị trường mà dường như luôn thiếu cầu (hoặc là thừa cung). Nếu như đây chỉ là một thị trường thuận lợi cho người mua, với vô vàn hàng hóa – tức là một thị trường mà ở đó người mua có quyền tối cao trong việc đưa ra những quyết định phù hợp với sở thích chủ quan của mình – thì chả có gì phải phàn nàn. Nhưng lại ngược lại. song, nếu như đây là biểu hiện của sự dưa thừa hàng hóa về cơ cấu, là hậu quả của việc lãng phí phương tiện sản xuất (kể cả những chi phí khổng lồ cho quảng cáo, tiếp thị, marketing), thì khi đó chúng ta sẽ gặp khó khăn.

Ở mức độ lớn hơn nữa – như chúng ta đã chỉ ra – chủ nghĩa tư bản quốc tế đã nổi lên nhờ giai đoạn toàn cầu hóa hiện tại, nhìn chung là phi lý. Mà biểu hiện đầu tiên là sự thiếu hụt những cơ chế tự điều tiết ở tầm quốc tế, nhưng cơ chế có nhiệm vụ bảo vệ hệ thống trước việc tự hủy diệt. Và điều này là nguy hiểm đối với chủ nghĩa tư bản, nếu như không hình thành những cơ chế thích hợp phối hợp chính sách kinh tế đối với toàn bộ nền kinh tế thế giới. Vậy thì vấn đề nằm trong việc hạn chế mức độ phi lý toàn cầu thông qua việc tạo ra một hệ thống chức năng để giải quyết các xung đột về lợi ích và thống nhất các mục tiêu phát triển. Ở đây một chính sách thông minh, hay ít ra cũng là lành mạnh là vô cùng cần thiết. Nó cần có các khung thể chế đúng đắn. Đó chính là thể chế – trong ngữ cảnh của những giá trị tiến hóa về lịch sử cụ thể – cho phép hoặc ngăn chặn việc thực thi một chính sách cụ thể và đạt được những mục tiêu phát triển đã đề ra.

Để cải thiện tình hình kinh tế, không chỉ thay đổi quan điểm hay thậm chí là những người chuyển tải chúng là đủ. Cần phải thay đổi chính sách, mà điều này nhiều khi đòi hỏi phải thay đổi thể chế trước. Trong giai đoạn cạnh tranh đã đi vào dĩ vãng của hai hệ thống – CNXH thực và CNTB thực (vì có cả chủ nghĩa tư bản trên giấy) – những nỗi đau khác nhau xuất hiện ở chỗ này chỗ khác. Nếu như CNXH thể hiện tình trạng quá tải về mặt cơ cấu và đồng hành với nó là nạn thiếu thị trường thì chủ nghĩa tư bản lại lúng túng bởi nạn thừa hàng hóa mang tính hệ thống, không tìm được nguồn tiêu thụ và nạn sản xuất thừa. Cho nên chúng tôi mới nói đùa rằng: chúng ta hãy đổi cho nhau các nhà kinh tế học. Bởi chính họ là những người có lỗi về tất cả… Biết làm sao được, mà thậm chí ngay cả khi thực hiện việc trao đổi ấy thì cũng vẫn chưa đủ, bởi cần phải thay đổi thể chế một cách cơ bản.

Vậy thì chúng ta quan niệm thể chế như những nguyên tắc. Đó là luật chơi kinh tế và những mối tương tác chính sách liên quan đến trò chơi này, cụ thể là:

+ các quy trình và quy tắc ứng xử phù hợp với luật pháp và phong tục tập quán,

+ luật điều hành và những điều tiết đưa vào nhằm mục đích bảo vệ người tham gia thị trường,

+ các tổ chức, nền hành chính và các cơ cấu chính trị phục vụ cho các nhu cầu của những người tham gia thị trường chính.

Những người nào ít biết về cách tiếp cận mang tính thể chế không chỉ đối với nền kinh tế, mà đối với các bộ môn KHXH nói chung, sẽ dể hiểu hơn về ý nghĩa và bản chất của thể chế khi chúng ta so sánh nó với giao thông trên đường. Tôi đã nhắc tới sự điều tiết những nguyên tắc điều hành nó trong khái niệm quốc tế. Bây giờ chúng ta hãy nhìn vấn đề này từ phía dưới, từ đường phố mà chúng ta đang đi. Như vậy là những quy tắc giao thông ở đây đã được quy định và đưa vào luật. Những người tham gia giao thông đều biết rõ những quy tắc ấy. Hay ít ra thì họ phải biết, bởi điều này liên quan đến những vấn đề mang ý nghĩa cộng đồng. Không chỉ có chúng ta tham gia giao thông, mà cả những người khác nữa. Càng ngày càng nhiều người tham gia giao thông, cho nên đây không còn là vấn đề ít phổ biến.

Những người tham gia giao thông bắt buộc phải thích nghi với giao thông, ngay cả khi họ không thích dưới góc độ chủ quan. Mà họ mới ghét làm sao nhất là việc hạn chế tốc độ tối đa hay cấm đỗ xe. Song, sự an toàn nói chung và chung cho mọi người đòi hỏi điều đó. Do vậy mà cần phải thích nghi với những điều tiết này. Không chỉ vì lợi ích của chính mình, mà còn vì sự tôn trọng luật lệ của những người tham gia giao thông khác nữa. nếu ai đó không phục tùng, đã có các thủ tục và công cụ buộc họ phải ứng xử phải phép. Trước hết là có bằng lái xe trên cơ sở qua được kỳ thi chung để chứng minh rằng anh ta có đủ kiến thức cần thiết về những quy định bắt buộc. Có những điều mà luật cấm và các chỉ dẫn giao thông. Có các hình phạt. Cảnh sát giao thông hoạt động. Trên các đường trong khu dân cư có các gờ giảm tốc độ buộc lái xe phải giảm tốc độ, một khi nếu thiếu cái này người ta không muốn hiểu đây không phải là xa lộ.

Như vậy là người này thì thực hiện luật, vì họ hiểu, chấp nhận và tôn trọng luật, người khác chỉ thực hiện khi bị giám sát. Ở những nước văn hóa cao, nơi mọi người tuân theo những thể chế đã được xã hội công nhận, người ta đứng chờ đèn đỏ cả vào lúc ba giờ sáng trên phố vắng tanh, bình thản cho tới khi đèn xanh bật lên. Ở những nước ít có thói quen tôn trọng luật và văn hóa thấp, người ta vượt đèn đỏ nếu như lái xe cho rằng không có ai qua được. Mà thậm chí nếu có người qua đường thì có thể bấm còi để xua anh ta cơ mà. Họ không nhìn người khác, bởi không phải thể chế, mà là lái xe quyết định phải làm gì. Về hình thức thì cũng những quy tắc ấy – ví dụ như ở Bangladesh và Anh Quốc – còn thực tế thì tính chất giao thông hoàn toàn khác. Với tất cả những hậu quả như chức năng, an toàn, hiệu quả, các hệ quả phụ như tiếng ồn, ô nhiễm môi trước, mức độ đô thị hóa. Về hình thức thì có vẻ như các thể chế là giống nhau, nhưng chỗ này thì bữa bãi, chỗ kia lại trật tự, chỗ này thì lộn xộn, chỗ kia lại kỷ luật, chỗ này hối hả chen lấn, chỗ kia giao thông trôi chảy.

Trong so sánh này, hoạt động kinh tế xuất hiện trước mắt chúng ta như giao thông trên đường, chỉ có điều năng động hơn nhiều, phức tạp hơn nhiều và rất khó để đưa vào một quy tắc tối ưu. Tối ưu nghãi là trong những điều kiện hiện có, sẽ tối đa hóa chức năng của mục đích mà trong trường hợp này là phải làm sao để đáp ứng tốt nhất những nhu cầu của con người trên con đường phát triển kinh tế, xã hội và sinh thái một cách cân bằng. Trong giao thông, các biển báo, đèn tín hiệu, qui tắc giao thông quyết định quyền ưu tiên còn tốc độ di chuyển, các công cụ luật pháp buộc người đi bộ và đi xe gắn máy phải có thái độ ứng xử thích hợp, thói quen và cách ứng xử cùng quyết định đến tình huống của người khác. Còn trong kinh tế thì các quy định của luật pháp, các quy trình hoạt động, cơ cấu và mối liên hệ giữa các tổ chức, cả tập quán và văn hóa của các đơn vị kinh doanh và các công chức, các nhà sản xuất và người tiêu dùng. Chuyển động của các dòng chảy và tài nguyên kinh tế – nguồn nhân lực, vật chất và tài chính, tài sản và dịch vụ, thông tin và công nghệ – sôi động và phức tạp hơn trong giao thông hàng trăm lần. Và khác với trong giao thông à ở đây chúng ta tham gia 24 trên 24 giờ trong ngày. Kể cả khi chúng ta ngủ cũng thế. Do đó mà hình thức thể chế có ý nghĩa to lớn đối với sản xuất và phân phối, tiết kiệm và đầu tư, hiệu quả và cạnh tranh, năng suất và sức sản xuất, đối với tăng trưởng và phát triển.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Grzegorz W. Kolodko – Thế giới đi về đâu? – NXB TG 2010.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s