Ai sử dụng quyền bầu cử?

Đa số người Mỹ nhất trí rằng quyền bầu cử là cốt lõi của chế độ dân chủ. Vào ngày Liệt sĩ và những ngày lễ khác, nước Mỹ vẫn dành sự tôn vinh cho những người lính đã chiến đấu và hy sinh để giành đặc quyền này cho đất nước. Nếu quyền bầu cử giá trị như vậy thì tại sao hàng triệu người Mỹ lại chọn cách tránh né không thực hiện nó?

Có vẻ nghịch lý khi nhiều người nghĩ rằng quyền bầu cử là thiêng liêng lại không màng đến việc tới nơi bỏ phiếu. Nhưng thực tế này không nghịch lý chút nào: nó là cố hữu trong lôgích của các cuộc bầu cử. Lợi ích của các cuộc bầu cử – theo cả nghĩa rộng là duy trì chế độ dân chủ và nghĩa hẹp là bầu ra một ứng cử viên sáng giá – là lợi ích tập thể. Người ta vẫn hưởng những quyền lợi đó mặc dù có thể chẳng góp mảy may công sức để tạo ra nó. Lý do có ý nghĩa nhất khiến các công dân đấu tranh cho quyền bầu cử là để buộc các lãnh đạo nhà nước quan tâm, chăm sóc đến tâm tư, nguyện vọng và lợi ích của dân chúng. Nhưng điều có ý nghĩa không kém để không quan tâm tới việc bỏ phiếu chính là khi coi mục tiêu duy nhất của việc đi bầu cử là để gây ảnh hưởng tới các nhà lãnh đạo. Xét cho cùng, ảnh hưởng của mỗi cử tri, mỗi lá phiếu thật quá nhỏ bé và chẳng thể tạo ra hay thay đổi được gì. Tất cả các lá phiếu gộp lại có thể mang tính quyết định nhưng một lá phiếu thì hầu như không là gì. Vậy thì việc gì phải tiêu tốn công sức, thời gian đi đến hòm phiếu nếu sự tham gia hay vắng mặt của mỗi cử chi chẳng thay đổi được kết quả của cuộc bầu cử? Câu hỏi thực tế không phải là tại sao hàng triệu người dân Mỹ không đi bỏ phiếu, mà là tại sao hàng triệu người Mỹ bỏ phiếu qua việc ngồi không hưởng lợi và đi bỏ phiếu.

Lôgích này cũng được áp dụng cho việc thu thập thông tin về các ứng cử viên các đảng phái cạnh tranh nếu một cử tri quyết định đi bầu cử. Sẽ là vô ích khi đầu tư thời gian, công sức và tiền bạc để biết được nhiều thông tin hơn về các ứng cử viên trong cuộc bầu cử, bởi sự đền bù từ việc bỏ lá phiếu “đúng” – cho ứng cử viên sẽ làm tốt công việc này nhất theo quan điểm của cử tri – là con số không, xét theo các mục tiêu thực chất. Nếu một lá phiếu không thể mang tính quyết định thì việc bỏ phiếu đúng hay sai chẳng mang lại hệ quả gì. Sự thờ ơ, cũng như việc không tham gia bỏ phiếu, là hợp lý.

Theo như lôgích trên thì ý tưởng này có thể dẫn tới sự sụp đổ của nền chính trị bầu cử và do vậy là cả sự sụp đổ của nền dân chủ: không có cử tri, không có trách nhiệm phải giải trình, không có sự đồng thuận của những người bị trị. Tuy nhiên, trên thực tế, các vấn đề ngồi không hưởng lợi này đã được giải quyết, song chúng chỉ được giải quyết theo những cách thức không hoàn thiện và để lại hậu quả quan trọng đối với phương thức vận hành của nền dân chủ Mỹ.

Tỷ lệ cử tri đủ điều kiện tham gia bầu cử đã biến động liên tục trong lịch sử các kỳ bầu cử Mỹ. Thay đổi quan trọng nhất ở nửa sau thế kỷ trước là sự sụt giảm số cử tri đi bầu trong khoảng thời gian từ năm 1968 tới 1972. Sau đó, tỷ lệ cử tri đi bầu tổng thống trung bình chỉ ở mức khoảng 58%, thậm chí ngay cả cuộc bầu cử nóng bỏng nhất năm 2004 cũng chỉ thu hút được tỷ lệ cử tri là 60%. Sự biến động số cử tri đi bầu đặt ra câu hỏi mà chúng ta sẽ giải quyết trong phần này: ai đi bầu? tại sao? và để làm gì? Vì sao số lượng cử tri đi bầu sụt giảm nhiều vào thập niên 1960, và điều đó có ảnh hưởng như thế nào?

Các nhân tố riêng rẽ ảnh hưởng đến số lượng cử tri đi bầu

Đã có rất nhiều nghiên cứu tập trung vào việc tìm hiểu ai đi bầu cử, ai không đi và tại sao. Công trình xuất sắc và tiêu biểu nhất trong số này là nghiên cứu của hai nhà khoa học chính trị Steven J. Rosenstone và John Mark Hansen; những phát hiện mới của họ được tóm tắt một phần trong Bảng 11 – 1. Những mục trong bảng cho thấy sự khác biệt mà mỗi nhân tố tạo ra đối với khả năng bỏ phiếu (với tác động của các yếu tố khác giữ nguyên). Ví dụ, với các điều kiện khác không đổi, tỷ lệ cử tri có trình độ học vấn cao nhất đi bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ (bầu cử thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ chứ không bầu cử tổng thống) cao hơn 27 điểm phần trăm so với số người có học vấn thấp nhất. Trong các cuộc bầu cử tổng thống, tỷ lệ cử tri lớn tuổi nhất tham gia bỏ phiếu cao hơn 29 điểm phần trăm so với tỷ lệ cử tri trẻ tuổi nhất.

Bảng 1 – 11
Những yếu tố tác động tới số cử tri đi bỏ phiếu
  Bầu cử tổng thống Bầu cử giữa nhiệm kỳ
Đặc trưng về nhân khẩu học

Thu nhập

Giáo dục

Độ tuổi

Người Mỹ gốc Phi

Người Mỹ gốc Mexico và Puerto Rico

Người sống ở các bang miền Nam

Người sống ở các bang biên giới

 

15,8

16,6

29,0

– 4,4

– 5,7

– 16,3

-6,1

 

4,6

27,0

25,7

– 8,5

– 9,3

– 9,8

– 8,4

Sự tham gia vào xã hội

Thâm niên làm việc trong cộng đồng

Phụcvụ trong nhà thờ

Ở nhà

Đang đi làm

 

10,7

15,1

7,5

2,1

 

23,3

10,2

5,5

 

Đặc trưng về tâm lý học

Ảnh hưởng yếu tố nội tại

Ảnh hưởng yếu tố ngoại lai

 

2,9

10,6

 

 

8,2

Đánh giá về đảng phái và ứng viên

Mức gắn kết với đảng phái

Quan tâm tới một đảng phái

Quan tâm tới việc đảng nào thắng cử trong cuộc bầu cử tổng thống

Quan tâm tới việc đảng nào thắng cử trong cuộc bầu cử Quốc hội

Quan tâm tới một ứng cử viên tổng thống

 

10,6

11,4

6,4

 

5,6

17,5

 

 

20,7

Sự huy động của các đảng phái và vận động bầu cử

Được một đảng phái liên hệ

Bầu cử tổng thống

Bầu cử thống đốc bang

Bầu cử vào ghế trống trong Hạ viện

Bầu cử vào ghế duy nhất trong Hạ viện

Bầu đại biểu vào Hạ viện

 

7,8

3,0

5,0

 

 

 

 

10,4

 

 

3,7

– 4,0

6,0

Cấu trúc hợp pháp của các cuộc bầu cử

Thời hạn cuối được đăng ký cử tri

Kiểm tra trình độ đọc viết (người Mỹ gốc Phi)

Thuế thân (người Mỹ gốc Phi)

Đăng ký định kỳ (người Mỹ gốc Phi)

Luật về quyền bầu cử (người Mỹ gốc Phi)

Luật về quyền bầu cử (người da trắng)

 

– 5,6

– 16,0

– 10,2

– 11,6

26,4

19,5

 

Tuổi tác và trình độ học vấn tác động lớn nhất đến hành vi bầu cử, nhưng không thể không nhắc đến nhiều yếu tố khác cũng có ảnh hưởng đến hành vi bầu cử. Người Mỹ gốc Phi, người Mỹ gốc Latinh thường ít đi bầu cử hơn (với các yếu tố khác không đổi), cũng như người dân tại các bang miền Nam hoặc biên giới phía nam. Những người dân có quan hệ cộng đồng chặt chẽ (những người định cự, có nhà riêng, có công việc ổn định, hay các thành viên giáo hội) có nhiểu khả năng đi bầu cử hơn vì họ có nhận thức và kiến thức đầy đủ về chính trị (yếu tố ảnh hưởng nội tại, theo cách gọi của khoa học chính trị), cũng như những người tin tưởng hơn vào khả năng gây ảnh hưởng đến các quyết định của chính quyền (yếu tố ảnh hưởng ngoại lai). Tỷ lệ cử tri đi bầu cũng cao hơn trong số người có khuynh hướng đảng phái mạnh và có ưu tiên rõ rệt trong bầu cử, người sống ở những nơi có hoạt động đảng phái và các chiến dịch vận động tranh cử mạnh mẽ. Cuối cùng, số người đi bầu cao hơn ở những nơi mà rào cản luật pháp đối với việc đăng ký bầu cử thấp hơn.

Vì sao yếu tố giới tính lại vắng mặt trong bảng những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi bầu cử này? Khi các điều kiện khác tương đồng thì tỷ lệ nam giới và nữ giới đi bầu là gần như nhau. Trong bảng này cũng thiếu những chỉ số về lòng tin vào chính phủ và sự tin tưởng vào khả năng đáp ứng của chính phủ sau mỗi kỳ tuyển cử, vì những người hoài nghi hay không tin tưởng vào chính phủ vẫn đi bầu cử như những người khác. Điểm này trái ngược với những kiến giải thông thường rằng sự sụt giảm số người tham gia bầu cử là do sự tăng lên chóng mặt số lượng những người hoài nghi và không tin tưởng từ năm 1960.

Sự giải thích cho những mô hình trên là rất rõ ràng. Hành vi bầu cử hay các dạng tham gia hoạt động chính trị khác – ví dụ như đóng góp tiền bạc, thời gian vào các chiến dịch tranh cử, viết các thông điệp gửi tới các quan chức chính phủ được bầu chọn, tham dự các cuộc mít tinh chính trị – tiêu tốn chi phí nhưng sẽ tạo ra lợi ích. Mọi người tham gia khi họ có thể đáp ứng được chi phí và thu về được lợi ích. Những người có tiền bạc, kinh nghiệm, thời gian rỗi và tự tin dễ dàng đáp ứng chi phí hơn; những người có lợi ích chính trị về mặt tinh thần lớn hơn – do quan tâm tới các vấn đề, ý thức về bổn phận thực thi những nghĩa vụ công dân, hoặc có lợi ích mạnh mẽ đối với đảng hay ứng cử viên – sẽ nhận được lợi ích lớn hơn (chủ yếu về mặt tinh thần). Vì thế, việc bỏ phiếu đối với hàng triệu người tìm thấy sự hài lòng cá nhân thông qua việc đi tới hòm phiếu là hợp lý. Thể hiện bản thân qua việc bầu cử là quan trọng hơn nhiều so với chi phí khiêm tốn của việc bỏ lá phiếu vào thùng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s