Phần 2: Các quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam với các cường quốc chính, 1996 – 2013

Bước ngoặt tiếp theo trong chính sách đối ngoại của Việt Nam đã đến tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 8 được tổ chức từ 28/6 – 1/7/1996. Mục chính sách đối ngoại trong Báo cáo chính trị đã đặt khả năng xung đột nảy sinh từ cạnh tranh trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học và công nghệ bên cạnh tiềm năng hợp tác bắt nguồn từ sự cùng chung sống trong hòa bình giữa “các quốc gia XHCN, các đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng cách mạng và tiến bộ” và “các quốc gia với các chế độ chính trị khác nhau”.

Việt Nam đã tìm cách thúc đẩy hợp tác với các cường quốc chính thông qua các thỏa thuận về quan hệ đối tác chiến lược. Vào tháng 3/2001, Liên bang Nga, “một nước bạn bè truyền thống”, đã trở thành đối tác chiến lược đầu tiên của Việt Nam trong chuyến thăm của Tổng thống Vladimir Putin tới Hà Nội. Thỏa thuận này đã trình bày hợp tác sâu rộng trong 8 lĩnh vực chính. Các thương vụ bán vũ khí của Nga cho Việt Nam sớm trở thành thành phần lớn nhất và quan trọng nhất trong quan hệ đối tác chiến lược. Nga trở thành nhà cung cấp thiết bị và công nghệ quân sự lớn nhất của Việt Nam.

Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 8 năm 1996, Việt Nam và Mỹ đã bắt đầu các cuộc đàm phán khó khăn về các điều kiện cho một Hiệp định thương mại song phương (BTA). BTA này là một vấn đề gây tranh cãi lớn trong giới tinh hoa của Đảng. Chỉ tới giữa năm 2000, phiên họp toàn thể lần thứ 10 của Ban chấp hành Trung ương Đảng mới thông qua việc hoàn tất các cuộc đàm phán với Mỹ.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 9, được tổ chức từ 19 – 23/4/2001, đã đặt ra các mục tiêu thoát khỏi tình trạng kém phát triển tới năm 2010 và đẩy nhanh công nghiệp hóa và hiện đại hóa để trở thành một nước công nghiệp hiện đại tới năm 2020. Theo cựu Phó Thủ tướng Vũ Khoan, nghị quyết của Đại hội 9 đã xác định rõ hai biện pháp chính để đạt được mục tiêu này, “thứ nhất, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường với các đặc trưng XHCN, và thứ hai, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn vào nhiều thể chế kinh tế toàn cầu khác nhau. Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu sẽ liên kết nền kinh tế của chúng ta với các nền kinh tế khu vực và toàn cầu trên cơ sở các quy tắc chung của cuộc chơi”. Kết quả là vào năm 2001, Mỹ đã trao cho Việt Nam Quy chế quan hệ thương mại bình thường tạm thời trên cơ sở theo từng năm.

Đại hội 9 cũng tái xác nhận rằng “Việt Nam muốn là bạn và đối tác tin cậy với tất cả các quốc gia” bằng cách đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ quốc tế của mình”. Ưu tiên được dành cho việc phát triển quan hệ với “các nước xã hội chủ nghĩa, các nước láng giềng và các nước bạn bè truyền thống”.

Vào giữa năm 2003, phiên họp toàn thể lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã đưa ra một cách diễn giải quan trọng cho hai khái niệm hệ tư tưởng – “đối tác hợp tác” và “đối tượng đấu tranh” trong quan hệ ngoại giao. Theo nghị quyết của phiên họp lần thứ 8, “bất cứ lực lượng nào lên kế hoạch và hành động chống lại các mục tiêu chúng ta theo đuổi trên con đường xây dựng và bảo vệ đất nước đều là đối tượng đấu tranh” và “bất cứ ai tôn trọng nền độc lập và chủ quyền của chúng ta, thiết lập và mở rộng các quan hệ hữu nghị, bình đẳng và cùng có lợi với Việt Nam là đối tác của chúng ta”.

Nghị quyết của phiên họp toàn thể lần thứ 8 lập luận ủng hộ việc áp dụng biện chứng có sắc thái hơn các khái niệm này:

“Với đối tượng đấu tranh, chúng ta có thể tìm ra các lĩnh vực hợp tác; với các đối tác, tồn tại các lợi ích mâu thuẫn và khác biệt với các lợi ích của chúng ta. Chúng ta nên nhận thức được những điều này, qua đó thoát khỏi hai xu hướng, cụ thể là thiếu cảnh giác và tỏ ra cứng nhắc trong nhận thức, thiết kế và thực hiện các chính sách cụ thể”.

Nghị quyết của phiên họp toàn thể lần thứ 8 qua đó đem lại cơ sở hợp lý về chính sách để Việt Nam tăng cường các hoạt động hợp tác với Mỹ. Sau phiên họp, Việt Nam đã thông báo rằng nước này sẽ chấp nhận một lời mời có từ lâu của Mỹ mời Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam tới thăm Washington. Việc Nam cũng chấp thuận chuyến thăm cảng đầu tiên của một tàu chiến Mỹ thuộc lực lượng Hải quân kể từ Chiến tranh Việt Nam.

ĐCSVN triệu tập Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 10 từ 18 – 25/4/2006. Theo Báo cáo chính trị, Việt Nam “phải phấn đấu để kiên định thực hiện một chính sách đối ngoại gồm các quan hệ đa phương và được đa dạng hóa trong khi tiếp tục chủ động hội nhập vào cộng đồng kinh tế thế giới và mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khác”. Vào tháng 12/2006, Việt Nam được Mỹ trao Quy chế quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn.

Sau Đại hội 10, Việt Nam đã tăng cường nỗ lực củng cố quan hệ của nước này với các cường quốc chính cũng như với khu vực Đông Á, các nước châu Âu và ASEAN thông qua các thỏa thuận quan hệ đối tác chiến lược.

Vào tháng 10/2006, Thủ tướng Việt Nam và Thủ tướng Nhật Bản đã công bố một bản Tuyên bố chung có tiêu đề “Hướng tới một quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và thịnh vượng tại châu Á”. Vào tháng 11/2007, Việt Nam và Nhật Bản đưa ra một Tuyên bố chung bao gồm Nghị trình hướng tới một quan hệ đối tác chiến lược gồm 44 điểm. Điểm thứ 4 trong Nghị trình chú trọng vào hợp tác quốc phòng bao gồm trao đổi các đoàn đại biểu quân đội, các chuyến thăm cảu các quan chức quốc phòng cấp cao và các chuyến thăm cảng thiện chí của tàu thuộc Lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản.

Vào tháng 7/2007, Ấn Độ và Việt Nam đã thông qua Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược gồm 33 điểm. Tuyên bố chung đã giới thiệu 6 lĩnh vực cho hợp tác chính trị, quốc phòng và an ninh: (1) đối thoại chiến lược ở cấp thứ trưởng; (2) cung cấp quốc phòng, các dự án chung, hợp tác huấn luyện và trao đổi thông tin tình báo; (3) các chuyến thăm trao đổi giữa các cơ quan quốc phòng và an ninh; (4) xây dựng năng lực, hỗ trợ kỹ thuật và chia sẻ thông tin với sự chú ý đặc biệt tới an ninh trên các tuyến đường biển, chống cướp biển, ngăn chặn ô nhiễm, tìm kiếm và cứu nạn; (5) chống khủng bố và an ninh mạng; và (6) an ninh phi truyền thống. Kể từ năm 2007, hợp tác quốc phòng đã bao gồm các chuyến thăm cấp cao, một Đối thoại chiến lược quốc phòng hàng năm và các chuyến thăm cảng của hải quân hai nước.

Vào tháng 6/2008, theo sau một cuộc gặp thượng đỉnh giữa các nhà lãnh đạo đảng tại Bắc Kinh, quan hệ song phương Việt – Trung đã chính thức được nâng lên thành quan hệ đối tác chiến lược. Một năm sau, quan hệ được nâng cấp lên thành quan hệ đối tác hợp tác chiến lược (sau đó được thiết kế lại thành quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện). Với tư cách là các đối tác chiến lược, Trung Quốc và Việt Nam đã phát triển một mạng lưới dày đặc các cơ chế đảng, nhà nước, quốc phòng và đa phương để quản lý quan hệ song phương, bao gồm một Ủy ban chỉ đạo chung cấp phó thủ tướng. Trung Quốc và Việt Nam thực hiện hợp tác quốc phòng trong 3 lĩnh vực: trao đổi các chuyến thăm cấp cao, đối thoại an ninh và quốc phòng chiến lược, các chuyến tuần tra chung trên biển và các chuyến thăm cảng.

Căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc về tranh chấp lãnh thổ trên biển Nam Trung Hoa bắt đầu sục sôi từ cuối năm 2007 và trở nên quyết liệt hơn sau tháng 5/2009. Những căng thẳng này đã dẫn tới sự hội tụ ngày càng tăng về quan ngại an ninh giữa Việt Nam và Mỹ. Năm 2010, Việt Nam đồng ý tổ chức cuộc Đối thoại chính sách quốc phòng đầu tiên với Mỹ và ngầm khuyến khích Mỹ đóng góp vào an ninh hàng hải bằng cách cân bằng với sức mạnh quân sự của Trung Quốc.

ĐCSVN đã tổ chức Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11 từ 12 – 19/11/2011. Nghị quyết cuối cùng của Đại hội đặt ra các mục tiêu chính sách đối ngoại sau cho giai đoạn 2011 – 2015:

“Tăng cường các hoạt động đối ngoại, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; qua đó tạo nền tảng cho đất nước trở thành một quốc gia công nghiệp theo hướng hiện đại tới năm 2020”.

Với việc đề cập cụ thể các nhiệm vụ chính sắp tới, nghị quyết cuối cùng của Đại hội tuyên bố:

“Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị – xã hội, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, trật tự, an toàn xã hội; ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế”.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện nghiên cứu Trung Quốc đương đại – New Zealand

TLTKĐB – 28 & 29/05/2016

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s