R.I. Zimenov

Trong điều kiện hiện nay, kênh xuất khẩu vốn sản xuất chính cảu Mỹ là các công ty xuyên quốc gia (CTXQG), nơi thực hiện tới hơn 90% xuất khẩu vốn dưới dạng các khoản đầu tư trực tiếp. CTXQG đã trở thành lực lượng chính của nền sản xuất thị trường và phân công lao động quốc tế, trở thành nhân tố chủ chốt của nền kinh tế thế giới và các quan hệ kinh tế quốc tế. Những khoản đầu tư trực tiếp của các CTXQG hiện nay đóng vai trò quan trọng nhất trong việc liên kết nhiều nền kinh tế quốc gia và tạo thành một hệ thống sản xuất quốc tế – là hạt nhân vật chất của nền kinh tế thế giới đang toàn cầu hóa.

Trong suốt hàng chục năm gần đây các công ty của Mỹ và của các nước phát triển khác đã không ngừng tăng nhanh lượng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, xóa dần sự khác biệt giữa thị trường trong nước và ngoài nước, mà với các CTXQG thì những thị trường này chỉ là một bộ phận của thị trường thế giới thống nhất. Sự bùng nổ trong lĩnh vực xuất khẩu đầu tư trực tiếp, đặc biệt ở Mỹ, diễn ra vào cuối những năm 90 của thế kỷ XX, đã minh chứng cho vai trò lớn mạnh đáng kể của đầu tư trực tiếp trong quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới.

Trong các năm 2001 – 2002, xuất khẩu đầu tư trực tiếp của Mỹ bị sụt giảm, do một số nguyên nhân, như tình hình kinh tế ở các nước công nghiệp phát riển xấu đi, số lượng các công ty lớn liên kết và sáp nhập bị giảm mạnh, sự tạm lắng của công cuộc tư nhân hóa ở những nước có nền kinh tế chuyển đổi, và sự mất lòng tin vào các công ty trong làn sóng các vụ bê bối và phá sản gắn với các công ty này.

Tuy vậy, mặc dù khối lượng vốn đầu tư mà các công ty Mỹ đã xuất khẩu bị giảm tới 27% năm 2001 (vào khoảng 103 tỷ USD), và năm 2002 chỉ tăng thêm 15% (khoảng 115,3 tỷ USD), nhưng vẫn giữ ở mức tương đối cao so với mức xuất khẩu vốn trung bình trong các năm 1986 – 1991 vào khoảng 26 tỷ USD. Năm 2003, đầu tư trực tiếp của Mỹ ra nước ngoài đạt 152 tỷ USD, vượt quá chỉ số cao nhất của năm 2000. Đồng thời, nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu đầu tư trực tiếp đã vượt tốc độ tăng trưởng GDP trong nước và xuất khẩu hàng hóa của Mỹ.

Trong những năm tới đây, theo đánh giá của các chuyên gia IMF, khối lượng vốn xuất khẩu từ Mỹ sẽ tăng, và các công ty Mỹ sẽ củng cố vị thế của mình với tư cách là những nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất.

Nước Mỹ rõ ràng vẫn giữ vị trí đứng đầu về quy mô vốn tích lũy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Trong vòng 10 năm (1993 – 2002), lượng vốn này đã tăng 2,7 lần và năm 2002 đạt con số khổng lồ là 1520,9 tỷ USD, hay chiếm 22,2% tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tích lũy trên thế giới. Để so sánh, có thể thấy, trong cùng năm đó, tỷ lệ vốn đầu tư của Anh tính trong khối lượng chung là 15%, Pháp – 9,5%, Đức – 8,4%, Hà Lan – 5,2% và Nhật Bản là 4,8%. Năm 2003, lượng vốn tích lũy mà Mỹ đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đạt 1789 tỷ USD. Như vậy, không một nước nào có thể sánh được với Mỹ về quy mô vốn tích lũy ở nước ngoài. Trên cơ sở của các FDI đang hình thành nên một nền sản xuất toàn cầu, củng cố nền kinh tế của Mỹ và các nước khác bằng những mối liên kết chặt chẽ hơn so với những mối liên kết mà ngành thương mại có thể tạo ra được.

Mạng lưới sản xuất quốc tế được tạo ra thông qua FDI đã hình thành một không gian kinh tế mà trong sách báo khoa học gọi là “nền kinh tế thứ hai”. “Nền kinh tế thứ hai” của Mỹ chiếm vị trí đặc biệt trong nền kinh tế thế giới. Xét về tiềm lực sản xuất, tiềm năng khoa học – kỹ thuật và tài chính, nó vượt trội về cơ bản các lĩnh vực kinh tế tương tự của các nhà xuất khẩu tư bản khác là Tây Âu và Nhật Bản. Trong khuôn khổ “nền kinh tế thứ hai” có hơn 20% năng lượng sản xuất của Mỹ tập trung trong đó. Ngay từ năm 2001, tại 23 nghìn doanh nghiệp – chi nhánh nước ngoài do tư bản Mỹ kiểm soát đã có gần 10 triệu công nhân và viên chức, chiếm gần một phần ba tổng lực lượng lao động trong các doanh nghiệp thuộc các CTXQG của Mỹ. Tài sản có của các doanh nghiệp nước ngoài thuộc các công ty Mỹ đạt 5,8 nghìn tỷ USD, khối lượng bán hàng toàn cầu của các doanh nghiệp này vượt quá 2,9 nghìn tỷ USD, thu nhập ròng (thu nhập thực tế) của họ là 192 tỷ USD. Các doanh nghiệp này đạt mức độ cao về trình độ trang bị th6ng tin – khoa học và tổ chức – kỹ thuật ở tất cả các hướng hoạt động của mình.

Song cũng phải khẳng định rằng, trong khi tạo ra và đồng thời góp phần đẩy mạnh và mở rộng nền sản xuất quốc tế đó, các chi nhánh của cá công ty Mỹ đang phải hoạt động trong điều kiệnh cạnh tranh khốc liệt diễn ra không chỉ trên thị trường hàng hóa và dịch vụ quốc tế, mà cả trên các thị trường vốn, lực lượng lao động có trình độ cao, công nghệ mới và các lĩnh vực khác… Điều này làm xuất hiện những xu hướng mới trong hoạt động đầu tư quốc tế của công ty.

Sự phát triển chiến lược cạnh tranh của các CTXQG

Trong điều kiện toàn cầu hóa hoạt động kinh tế, mục tiêu chính cảu các CTXQG Mỹ hiện nay không hẳn chỉ là tối đa hóa lợi nhuận, mà chủ yếu là tối đa hóa thị trường. Để đạt được mục tiêu này, các CTXQG Mỹ đã sử dụng những chiến lược khác nhau với nhiều lần thay đổi tùy theo tình hình của nền kinh tế trong nước lẫn tình hình kinh tế thế giới.

Trong những năm 60 – 70 của thế kỷ XX các CTXQG của Mỹ (trừ các công ty thuộc lĩnh vực khai khoáng) đã bám riết chiến lược biết đến dưới cái tên gọi “đánh lẻ”. Theo chiến lược này, chi nhánh nước ngoài hoạt động một cách độc lập, tức là nó lặp lại trên thực tế toàn bộ dây chuyền nghiệp vụ, trừ công tác nghiên cứu khoa học và thiết kế – thử nghiệm (NCKH & TKTN) và công tác tài chính là do công ty mẹ đảm nhiệm.

Dần dần, tự do hóa hoạt động kinh tế thế giới và tiến bộ khoa học – kỹ thuật đã làm thay đổi các phương thức hoạt động sản xuất quốc tế. Nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng phạm vi tiêu dùng sản phẩm, giảm giá thành vận chuyển và liên lạc đã mở rộng phạm vi địa lý của các chiến lược của công ty, điều này đã cho phép các công ty lớn của Mỹ trong các ngành như ôtô, hàng không vũ trụ, điện tử, tối thiểu hóa được chi phí bằng cách kết hợp tiết kiệm nhờ mở rộng quy mô sản xuất với việc tổ chức mạng lưới các nhà cung cấp ở ngoài nước với chi phí thấp.

Điều này dẫn đến việc áp dụng chiến lược liên kết giản đơn, tức là, trên cơ sở công nghệ tiếp nhận được từ công ty mẹ, các chi nhánh nước ngoài thường thực hiện một số hạn chế các công đoạn trong sản xuất và cung cấp cho công ty mẹ những bộ phận nhất định được tạo ra nhờ sử dụng ưu thế cạnh tranh tại nước đặt chi nhánh. Chiến lược này được sử dụng rộng rãi vào những năm 70 – 80 của thế kỷ XX, đã tạo ra những hình thức liên kết xuyên biên giới mới (ví dụ, các quan hệ cung ứng phụ) và đã mở rộng hơn một chút việc trao đổi hai chiều về thông tin, công nghệ và một số kết quả hoạt động khác giữa công ty mẹ và các chi nhánh nước ngoài.

Tuy nhiên, cả hai chiến lược được xem xét trên đều đã ước định hoạt động có tính chất phân mảng các chi nhánh trong CTXQG và sự quốc tế hóa có tính hạn chế. Dưới tác động của tự do hóa hoạt động đầut ư quốc tế, của sự lan rộng các công nghệ mới và sự khắc nghiệt của cạnh tranh, trong những năm 90 của các CTXQG Mỹ đã lấy chiến lược liên kết sâu làm vũ khí. Nội dung của chiến lược là chuyển các chi nhánh bị phân tán về mặt địa lý và hệ thống sản xuất đang bị phân mảng thành một mạng lưới sản xuất và tiêu thụ có tính toàn cầu hoặc có tính khu vực. Nói cách khác, mục tiêu của chiến lược này là xây dựng một hệ thống sản xuất quốc tế được tạo bởi các chi nhánh của Mỹ ở nước ngoài, nó sẽ thống nhất nền kinh tế của Mỹ và các nước khác bằng những mối quan hệ lâu dài và bền vững.

Tùy theo mục tiêu xây dựng nền sản xuất quốc tế cụ thể tại mỗi nước khác nhau mà chiến lược liên kết sâu có thể có các hình thức khác nhau. Một trong những hình thức đó là công ty mẹ thực hiện các chức năng nghiệp đoàn khác nhau ở nước ngoài, chẳng hạn như tiến hành các công việc NCKH & TKTN, tiếp thị và nghiệp vụ kế toán. Hình thức khác gắn với việc xây dựng hệ thống sản xuất liên kết, trong đó các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất được phân công giữa các nước khác nhau, là xuất phát từ giá trung bình cảu sản phẩm xuất xưởng, cũng như từ lợi thế trong đảm bảo vật tư – kỹ thuật (cốt lõi của lôgích học ngày nay). Cuối cùng, chiến lược liên kết sâu có thể là sự phân chia các chức năng phục vụ sản xuất thành các hợp phần để thực hiện chúng tại các nước khác nhau nhằm mục đích tối thiểu hóa các chi phí hoặc để vận dụng cơ chế mềm hơn trong chế tạo sản phẩm.

(còn tiếp) 

Người dịch: Trần Thành

Nguồn: TN 2006 – 43 & 44

R.I. Zimenov là Giáo sư, Tiến sĩ kinh tế, chuyên viên chính ISKRAN, Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học kinh tế (Nga).

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s