Các yếu tố thể chế tác động tới tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu

Tuy nhiên, những khác biệt trong tỷ lệ cử tri tham gia bỏ phiếu không thể được giải thích hoàn toàn bằng sự khác biệt trong nguồn lực và phát triển tâm lý của cá nhân. Bối cảnh thể chế, ví dụ như sự khác biệt trong luật đăng ký cử tri – cũng có tác động tương tự tới tỷ lệ tham gia bầu cử. Những yêu cầu của việc đăng ký càng phức tạp thì chi phí bỏ phiếu càng lớn. Trong những thập niên sau cuộc Nội chiến, các bang miền Nam đã thông qua những công cụ như thuế bầu cử, kiểm tra trình độ học vấn, và yêu cầu các cử tri phải đăng ký lại theo định kỳ nhằm hạn chế người Mỹ gốc Phi tham gia bỏ phiếu. Nhưng sua khi Đạo luật về quyền bầu cử năm 1965 cấm thực hiện các bài kiểm tra trình độ học vấn và ủy quyền cho Bộ Tư pháp giám sát việc đăng ký cử tri tại những bang có truyền thống phân biệt chủng tộc mạnh mẽ, tỷ lệ bỏ phiếu của người Mỹ gốc Phi (và cả người da trắng) đã tăng lên mạnh mẽ. Tuy vậy, tác động của những thông lệ cũ vẫn còn. Ngay cả với việc chấm dứt những hạn chế bầu cử chính thức và không chính thức cũng như sự xuất hiện của cuộc cạnh tranh giữa hai đảng tại khu vực của mình, các bang miền Nam vẫn có tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu thấp hơn đáng kể so với những nơi khác.

Hoàn cảnh xã hội cũng đóng vai trò quyết định đến số lượng cử tri. Những mối liên hệ về mặt xã hội tạo ra động lực cá nhân để thúc đẩy cử tri tham gia bầu cử khi, chẳng hạn, những người cùng làm việc với nhau sẽ lưu ý xem ai đang thực hiện nghĩa vụ công dân là bỏ phiếu. Những mối liên hệ này cũng cung cấp rất nhiều thông tin miễn phí thông qua chính trị. Tuy nhiên, quan trọng hơn là những nỗ lực có ý thức của các nhà hoạt động chính trị đủ loại nhằm lôi kéo cử tri đi bầu. Thường thì người ta chỉ tham gia bầu cử khi được yêu cầu, một thực tế chẳng có gì là bí mật đối với các chính trị gia. Mong muốn trúng cử khiến cho các ứng cử viên, các đảng phái, các nhóm cá nhân còn phải nỗ lực để lôi kéo các nhà tài trợ vận động tranh cử, càng nhiều càng tốt. Điều này được minh họa rõ ràng trong các chiến dịch vận động tranh cử của Bush và Kerry năm 2004.

Những tác động về mặt nhân khẩu học và thể chế trong việc bầu cử tạo ra một giới cử tri trong đó những người da trắng giàu có, học vấn cao và lớn tuổi hơn được đại diện nhiều hơn, còn những người nghèo, không có học vấn, trẻ tuổi và không phải da trắng được đại diện không đầy đủ. Nguồn lực không cân bằng chỉ là một phần nguyên nhân. Nguyên nhân khác là những người có lợi thế về mặt xã hội sẽ dễ được các đảng, nhóm lợi ích và tổ chức vận động lôi kéo tham gia bỏ phiếu nhiều hơn. Các nhà lãnh đạo chính trị sử dụng nguồn lực khan hiếm của mình một cách thận trọng và có hiệu quả; tập trung vào bộ phận cử tri mà chi phí để tiếp cận họ là rẻ nhất và dễ dàng có được phản ứng từ họ nhất. Nói cách khác, họ thường tìm kiếm những người giống bản thân họ (về học vấn và tài sản), những người đã có tổ chức và là thành viên trong các hiệp hội tình nguyện, và những người mà đặc tính xã hội của họ có khuynh hướng lôi kéo họ tham gia bỏ phiếu. Theo Resenstone và Hansen, “Như vậy, áp lực mà các nhà lãnh đạo chính trị phải đối mặt để sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả nhất đã tạo ra sự thiên lệch giai cấp trong nỗ lực huy động cử tri của mình”.

Sự biến động của tỷ lệ cử tri tham gia bầu cử qua các thời kỳ

Liệu có yếu tố nào có thể giải thích sự biến động số lượng cử tri tham gia bầu cử qua các thời kỳ? Thêm nữa, vì sao số cử tri tham gia sụt giảm từ mức trung bình 68% của những năm 1952 – 1968 xuống chỉ còn khoảng 58% những năm sau đó? Sự sụt giảm này đã làm cho những người nghiên cứu rất hoang mang, vì luật bầu cử đơn giản và dễ dàng hơn, giáo dục cũng có những bước phát triển lớn – hai xu hướng này đáng lẽ phải đưa số người bầu cử tăng lên. Nhưng thực tế đã không diễn ra như vậy vì sự gia tăng của chúng không bù đắp được số sụt giảm do các khuynh hướng tác động đối lập. Phân tích của Rosenstone và Hansen về các yếu tố và mức tác động của chúng đến số lượng cử tri đi bầu được tóm tắt trong Bảng 11 – 2.

Bảng 11 – 2
Các nguyên nhân làm sụt giảm số người đi bầu cử từ thập niên 1960 đến thập niên 1980
Sự thay đổi

Tác động đối với tỷ lệ thay đổi trong số người đi bầu cử từ thập niên 1960 tới 1980

Tỷ lệ phần trăm của tổng số sụt giảm

Sự đơn giản hóa thủ tục đăng ký bầu cử + 1,8  
Tăng thêm giáo dục chính quy + 2,8  
Sự trẻ hóa độ tuổi trung bình của cử tri – 2,7 17
Sự thả lỏng trong quan hệ xã hội – 1,4 9
Sự thất vọng về hiệu quả chính trị – 1,4 9
Sự suy giảm nhiệt tình và quan tâm đến các đảng phái cùng các ứng cử viên – 1,7 11
Sự sụt giảm trong hiệu quả vận động – 8,7 54
Thay đổi ròng trong tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu – 11,3 100

Việc đăng ký dễ dàng hơn và giáo dục chính quy phát triển đã có ảnh hưởng tích cực tới số cử tri đi bầu, nhưng những thay đổi khác lại có tác động ngược lại. Ví dụ, việc mở rộng quyền bầu cử đến độ tuổi 18 đã làm giảm phần trăm số cử tri đi bầu qua việc mở rộng diện cử tri có đủ tiêu chuẩn ra các nhóm tuổi ít có xu hướng tham gia bầu cử – những công dân chưa đến 20 tuổi. Số cử tri đi bầu cũng giảm xuống do ít người gắn bó sâu xa với cộng đồng, cảm thấy được hiệu quả về chính trị hay cảm nhận mạnh mẽ về các đảng phái và các ứng cử viên.

Tuy nhiên, lý do chủ yếu cho sự giảm sút lại mang tính thể chế: sự huy động của các đảng phái, ứng cử viên và các nhóm như công đoàn suy giảm. Có ít người đi bầu hơn một phần là vì ít người được vận động hơn – tức là được các nhà hoạt động trong vùng làm việc cho các đảng và các ứng cử viên yêu cầu bỏ phiếu. Hầu hết các ứng cử viên và các đảng đã thay thế các chiến dịch đến từng nhà cần nhiều nhân lực sang các chiến dịch gửi thư trực tiếp và truyền hình cần nhiều tiền. Hơn nữa, do các chiến dịch truyền thông thường tốn kém nên các đảng phái và những người khác tập trung nguồn lực khan hiếm vào các cuộc đua khó khăn nhất, do đó giảm nỗ lực vận động cử tri trong những cuộc đua ít tính cạnh tranh. Việc phong trào dân quyền trở nên mờ nhạt đã làm suy yếu dần những nỗ lực giành quyền đăng ký và bầu cử cho người Mỹ gốc Phi. Phong trào lao động thoái trào cũng làm xói mòn việc vận động ở các cơ sở truyền thống, mặc dù trong các cuộc bầu cử gần đây, các nhà lãnh đạo lao động đã tìm cách lật ngược xu hướng này và có những thành công nhất định. Khi các chiến dịch trnah cử tổng thống đầu tư lớn vào các hoạt động ở cơ sở để htu hút phiếu bầu, số cử tri đi bầu đã tăng lên đáng kể. Tựu chung lại, số cử tri đi bầu chịu tác động trực tiếp bởi các hoạt động của những trung gian chính trị theo đuổi các vị trí hay chính sách. Khi mục tiêu của họ thay đổi, mức độ tham gia bầu cử cũng thay đổi.

Việc số cử tri đi bầu cử giảm xuống sau những năm 1960 thể hiện rõ hơn ở nhóm mà sự tham gia hầu hết phụ thuộc vào sự thúc đẩy từ bên ngoài: những người nghèo nhất và ít được giáo dục nhất. Nhìn chung, khu vực bầu cử càng nhỏ thì xu hướng nghiêng về tầng lớp trên càng lớn. Theo lôgích, một khu vực bầu cử thiên lệch sẽ dẫn đến những chính sách thiên lệch do các chính trị gia về bản chất chỉ quan tâm đến những phiếu bầu sẽ kiểm soát tương lai của họ. Ví dụ, trước việc ngân sách bị thâm hụt những năm 1980, Quốc hội sẵn sàng cắt giảm các chương trình phúc lợi xã hội cho người nghèo (tem lương thực, chương trình đào tạo nghề và trợ giúp các gia đình có trẻ em bị phụ thuộc) hơn là cắt các chơng trình phúc lợi xã hội cho tầng lớp trung lưu tích cực về mặt chính trị (An sinh xã hội và chăm sóc y tế). Thậm chí như vậy, bằng chứng có hệ thống cho thấy rằng những ưu tiên chính trị của cử tri và người không phải cử tri thường không khác nhau lắm và rằng rất ít, nếu có, những kết quả bầu cử sẽ thay đổi nếu như mỗi một người có đủ tiêu chuẩn đều bỏ phiếu. Tuy nhiên, bằng chứng này không giúp các chính sách được thiết kế để làm tăng số cử tri đi bầu khỏi gây ra những tranh cãi ầm ĩ của các đảng phái (xem hộp “Bộ luật cử tri linh hoạt”).

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s