Tyson Barker

……..

Rồi, có một vấn đề danh tiếng của TTIP. Các nhà đàm phán nỗ lực tạo ra một lý do tiến bộ ủng hộ TTIP, lập luận rằng nó sẽ bảo đảm các quyền lao động và môi trường trong số các vấn đề khác. Tuy nhiên, cái nhãn TTIP đã trở nên tai hại, phần lớn do những sự hiểu sai xung quanh một số đặc trưng tiềm năng của hiệp định này. Chẳng hạn, các đối thủ của TTIP đã tấn công một điều khoản khó hiểu nhưng ngày càng gây tranh cãi được biết đến như là giải pháp cho tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước (ISDS), một cơ chế cho phép các nhà đầu tư và các công ty nước ngoài thách thức những nỗ lực của chính phủ áp đặt các điều kiện lên doanh nghiệp của họ mà họ xem là sự phân biệt đối xử. Đối với những người phỉ báng TTIP, quá trình đó là một con đường tắt ngoại tụng và không dân chủ để khu vực tư nhân biến cuộc sống hàng ngày thành lợi thế cho các doanh nghiệp nước ngoài. Tuy nhiên, các điều khoản đó, mà chủ yếu có nghĩa khuyến khích đầu tư nước ngoài ở các nhà nước nơi phần nào có rủi ro chính trị, đã là một rường cột trong các thỏa thuận thương mại kể từ những năm 1950, và không một trường hợp ISDS nào chống lại Pháp, Đức hay Mỹ – 3 nền kinh tế lớn nhất trong TTIP – từng thành công. Các nhà vận động chiến dịch chống TTIP cũng lo ngại về cách xử lý dữ liệu cá nhân trong thương trường châu Âu, các vấn đề bảo mật, và an toàn thực phẩm. Các quan chức công và trong ngành công nghiệp ủng hộ thỏa thuận này đã dần dần nhận ra những cáo buộc như vậy sẽ tạo ra tiếng vang như thế nào với công chúng châu Âu và đã thất bại trong việc chống lại chúng một cách hiệu quả, thay vào đó phần lớn tự giới hạn mình ở những tuyên bố chung chung ủng hộ các cuộc đàm phán.

Những người hoài nghi về TTIP lớn tiếng nhất thuộc về các nước cốt lõi của châu Âu, có ảnh hưởng lớn nhất lên các thể chế EU, và tuy thế có khả năng một cách khác thường thu được lợi nhiều nhất từ một thỏa thuận thành công. Ở Đức, gần 1/2 GDP và 1/4 công việc làm phụ thuộc vào xuất khẩu, sự ủng hộ của dân chúng dành cho TTIP đã giảm xuống – từ 55% vào năm 2014 xuống chỉ còn 17% hiện nay, theo Bertelsmann Foundation. Nước này đã rơi vào vòng ngoài của khối – các nước Bắc Âu, Baltic, Trung Âu và Iberi – ủng hộ thỏa thuận này.

Từ chập chạp đến nói “không”

Các nhà đàm phán TTIP cũng đối mặt với nhiều khó khăn mang tính cấu trúc. Do tính phức tạp ngày càng tăng của các thỏa thuận thương mại và sự khó khăn của việc đưa chúng vượt qua các cơ quan lập pháp hoài nghi và sai chức năng, các thỏa thuận song phương ngày càng mất nhiều thời gian hơn để đưa vào có hiệu lực. Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ, đã có hiệu lực vào năm 1994, đã mất chưa đầy 3 năm để hoàn thành. Một thỏa thuận thương mại tự do năm 2011 giữa Mỹ và Hàn Quốc đã mất gần 6 năm để thông qua; một thỏa thuận với Panama, đã hoàn thành chỉ vài năm trước, mất gần 9 năm. Các cuộc đàm phán về TPP đã bắt đầu vào tháng 2/2008, trong thời chính quyền của Tổng thống Mỹ George W. Bush. Trong những năm gần đây, khi sự đồng thuận chính trị xung quanh những lợi ích thương mại tan rã, các thỏa thuận thương mại châu Âu đã thất bại do một xu hướng tương tự.

Vòng đàm phán lần thứ 15 của TTIP được tổ chức ở New York vào đầu tháng 10. Các quan chức Mỹ, tìm cách tận dụng mọi tiềm năng từ cuộc đàm phán trước khi Chính quyền Obama hết nhiệm kỳ, vẫn muốn nhanh chóng ký kết hiệp định trước khi kết thúc năm. Đó là một mục tiêu không thể đạt được: nhiều chương trong hiệp định này vẫn chưa được hoàn thành. Sự khăng khăng của Washington về một sự kết thúc nhanh chóng các cuộc đàm phán đã khiến nhiều người ở EU phải khổ sở, như Bộ trưởng Kinh tế Áo Reinhold Mitterlehner và Bộ trưởng Thương mại Pháp Matthias Fekl, những người coi đó là vụng về và không thực tế. Cả hai đã kêu gọi bắt đầu các cuộc đàm phán mới dưới tên gọi khác.

Brexit cũng để lại dấu ấn trong các cuộc đàm phán. Anh chiếm khoảng 17% GDP của EU và tiếp nhận 1/4 hàng xuất khẩu của Mỹ đến EU. Một khi nước này rời khỏi liên minh, khả năng kinh tế và sức mạnh đàm phán của khối này sẽ giảm xuống. Đồng thời, EU sẽ mất đi một trong những nước ủng hộ mạnh mẽ nhất cho thỏa thuận thương mại Mỹ – EU, và cán cân sức mạnh ở châu Âu sẽ nghiêng ra xa những người có tư tưởng tự do về kinh tế và nghiêng về phía những người ủng hộ sự bảo vệ và quản lý thị trường châu Âu nhiều hơn. Khi đó đối với Mỹ, Brexit sẽ tạo ra cho các thị trường EU một phần thưởng nhỏ hơn và các quan chức EU khó có thể đàm phán với các đối tác hơn. (Việc đó cũng đã dẫn đến những lời kêu gọi của một số đảng viên Đảng Cộng hòa của Mỹ về việc đàm phán một thỏa thuận thương mại riêng rẽ giữa Anh và Mỹ).

Cũng có vấn đề dư luận của công chúng châu Âu đối với Mỹ, mà có thể được miêu tả là sự pha trộn giữa sự ngưỡng mộ, lo lắng và coi thường. Các quyết định chính trị của EU đã đụng đến các lợi ích doanh nghiệp của Mỹ, như phán quyết của Ủy ban châu Âu buộc hãng Apple đóng trả thuế ở Ireland, nằm trong số những điều được lòng dân nhất của lục địa này. Về TTIP, những thái độ như vậy cũng khuyến khích một số quan chức EU tiếp cận với các cuộc đàm phán một cách thận trọng.

Bị chôn nhưng không chết

Trong nhiều thập kỷ, quyền đàm phán các thỏa thuận thương mại nhân danh các nhà nước thành viên EU là một báu vật trong các quyền lực của Brussels. Thương mại là một lĩnh vực trong đó EU có chung một tiếng nói: tiếng nói của Ủy ban châu Âu. Nhưng gần đây, áp lực trả lại các quyền này cho các nhà chức trách cấp quốc gia đã và đang tăng lên. Các chính phủ Pháp, Đức, và các nước khác đang thúc giục các bộ trưởng thương mại quốc gia của họ đóng vai trò lớn hơn trong các hội nghị của EU và khẳng định rằng cả CETA lẫn TTIP được xếp vào cái được gọi là các hiệp định hỗn hợp, có nghĩa là chúng sẽ đòi hỏi sự thông qua ở hàng chục nghị viện cấp quốc gia và khu vực để có hiệu lực.

Sự chuyển giao quyền lực này làm suy giảm các thể chế của Brussels, đặc biệt là Nghị viện châu Âu, với tư cách là trọng tài thương mại hàng đầu của lục địa này. Nó làm cho các hiệp định như CETA và TTIP sa lầy vào các nghị viện cấp khu vực và quốc gia thực tế, để mặc các thỏa thuận có hiệu lực tạm thời trong nhiều năm. (Một số người chỉ trích các thỏa thuận thương mại lường trước được điều này đã bắt đầu kêu gọi chấm dứt việc thực thi tạm thời).

Xu hướng đó dường như sẽ tiếp diễn trong tương lai có thể thấy được. Tuy nhiên, chưa phải quá muộn để cứu lấy TTIP, CETA và TPP. Để cứu thời đại của thỏa thuận thương mại lớn, các nhà hoạch định chính sách phương Tây phải giải quyết những mối quan ngại của người dân, những người đã nghe về những lợi ích rộng lớn của sự toàn cầu hóa kinh tế, tuy nhiên đã gánh chịu tình trạng lương không tăng, sức mạnh thương lượng bị mất đi, và các cơ hội suy giảm. Các chính phủ nên đưa ra các thỏa thuận thương mại vào các chiến lược kinh tế rộng hơn mà duy trì các hệ thống cơ sở hạ tầng tiên tiến, bảo vệ các cư dân chống lại các cuộc suy thoái kinh tế, và làm nhiều hơn để phân phối một cách công bằng những thành quả mà sự mở cửa kinh tế tạo ra. Chỉ khi đó phương Tây mới thu được những lợi ích mà một thỏa thuận thương mại Mỹ – EU sẽ mang lại.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/united-states/2016-09-28/how-ttip-lost-steam

TLTKĐB – 04/11/2016

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s