Bộ luật cử tri linh hoạt

Mười triệu người Mỹ đủ tiêu chuẩn không màng tới việc đi bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử toàn quốc. Tình trạng ngồi không hưởng lợi lan tràn này đã làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực trên các bài xã luận của báo và dẫn đến hàng loạt các dự án nhằm thúc đẩy số cử tri đi bầu. Tuy nhiên, bất cứ nỗ lực nào nhằm gia tăng số cử tri đi bầu qua việc lập háp đều tự động trở thành một vấn đề đảng phái. Các chính trị gia đều cho rằng số người ủng hộ Đảng Dân chủ là cao hơn, bất chấp bằng chứng cho thấy điều ngược lại.

Đạo luật đăng ký cử tri quốc gia năm 1993, được biết đến rộng rãi với cái tên Bộ luật cử tri linh hoạt, là một trường hợp. Được ban hành trước sự chống đối của Đảng Cộng hòa, luật yêu cầu các bang cho phép công dân đăng ký bầu cử khi nộp đơn xin cấp hoặc đổi bằng lái xe, đăng ký qua thư, hay nhận mẫu đăng ký qua thư và được trợ giúp để điền mẫu tại các cơ quan phúc lợi bang. Nó cũng cấm các bang thanh lọc cử tri từ danh sách vì không đi bỏ phiếu. Mục đích của đạo luật là tăng cường số cử tri đi bầu bằng cách làm cho việc đăng ký dễ dàng – nói các khác, giảm chi phí cho công dân.

Những người Cộng hòa đã công kích dự luật tại Quốc hội và sau đó tại tòa án. Theo lời của Thượng nghị sĩ Cộng hòa Paul Coverdell của bang Georgia, đây là “một ví dụ kinh điển về việc một chính phủ hay bắt nạt áp đặt gánh nặng tài chính quá mức lên các bang của chúng ta”. Tuy nhiên, mối quan tâm thực sự của họ không phải là một sự ủy quyền không được tài trợ mà là viễn cảnh của một tập hợp những cử tri Dân chủ mới. Mỉa mai thay, tác động của luật cho đến nay đã ủng hộ những người Cộng hòa; các khu vực có sự gia tăng số cử tri đăng ký lớn nhất theo luật này là khu vực kiểm soát của đảng Cộng hòa ở miền Nam và miền Tây.

Luật cử tri linh hoạt đã thêm vào danh sách cử tri hàng triệu người, và các nhà phân tích cho rằng có khả năng tăng số cử tri đi bầu vào khoảng mười điểm phần trăm. Nhưng số người tham gia bầu cử trong các cuộc bầu cử giữa kỳ (1998) và bầu cử tổng thống (1996 và 2000) diễn ra sau khi luật có hiệu lực thực sự thấp hơn so với hai cuộc bầu cử có thể so sánh được ngay trước đó (1992 và 1994). Rất nhiều người đăng ký mới dường như không bắt đầu bỏ phiếu ngay lập tức, cho thấy rằng chi phí đăng ký không phải là điều đã giữ họ ngoài cuộc bầu cử. Sự gia tăng lớn số cử tri đi bầu năm 2004, đặc biệt trong các cử tri trẻ tuổi (theo ước tính, số cử tri đi bầu ở độ tuổi 18 – 29 năm 2004 cao hơn năm 2000 là 9,3 điểm phần trăm) có thể là do luật thúc đẩy, song những tình cảm mạnh mẽ nảy sinh qua sự tranh đua của các ứng cử viên tổng thống có thể cũng có liên quan.

Các cử tri quyết định thế nào?

Bỏ một lá phiếu nghĩa là đưa ra một dự đoán về tương lai – rằng việc bầu một ứng cử viên sẽ dẫn đến một kết quả tốt hơn theo một ý nghĩa nhất định so với bầu ứng cử viên kia. Để đưa ra dự đoán này, một cử tri phải chọn những tiêu chuẩn “tốt hơn” và “thích đáng”, rồi sau đó quyết định ứng cử viên nào đáp ứng những tiêu chuẩn này tốt nhất Những lựa chọn này được thực hiện trong các điều kiện có tính không chắc chắn đáng kể, và vì khả năng bỏ một lá phiếu có tính quyết định là rất hạn hẹp nên mọi người thấy không cần đặt quá nhiều nỗ lực vào việc thu thập thông tin có thể làm giảm tính không chắc chắn. Do vậy, họ tiết kiệm bằng cách sử dụng những tín hiệu đơn giản dựa trên kinh nghiệm và chủ yếu dựa trên những thông tin miễn phí do các phương tiện truyền thông, các quảng cáo chiến dịch, những người dẫn dắt quan điểm cung cấp, cùng với kinh nghiệm dự đoán của họ.

Thành tích hoạt động trước đây và vị thế đương nhiệm

Một cách để dự đoán tương lai là nhìn vào quá khứ. Các cử tri có thể xem một cuộc bầu cử là một cuộc trưng cầu dân ý về thành tích của người đương nhiệm hoặc của đảng đa số trong một chức vụ. Liệu cơ quan hiện tại đã thực hiện công việc thích đáng là phục vụ các giá trị và lợi ích của cử tri hay chưa? Câu trả lời phụ thuộc vào chức vụ, hoàn cảnh và điều mà cử tri cho là quan trọng. Các tổng thống muốn tái cử thường được xem là chịu trách nhiệm về nền kinh tế quốc gia – tỷ lệ lạm phát, thất nghiệp và tăng trưởng kinh tế. Các vấn đề kinh tế có thể đã khiến Jimmy Carter và George H.W. Bush mất đi sự nghiệp của mình, trong khi một nền kinh tế vững mạnh đã góp phần giúp Ronald Reagan tái cử vào năm 1984 và Bill Clinton và năm 1996. Câu hỏi nổi tiếng mà Reagan đưa ra là về tiêu chuẩn này: “Bạn có khấm khá hơn so với bốn năm trước không?” Các tổng thống cũng có thể dược phỏng vấn về việc thực hiện chính sách đối ngoại. Thành công của Dwight Eisenhower trong việc chấm dứt chiến tranh Triều Tiên đã giúp bảo đảm cho ông tái cử vào năm 1956; việc Carter bất lực, không giải thoát được các nhà ngoại giao Mỹ bị Iran bắt giữ đã hủy hoại những cơ hội tái cử của ông vào năm 1980. George W. Bush tái cử một phần dựa vào việc cử tri đánh giá thế nào về phản ứng của ông trước vụ tấn công ngày 11 tháng Chín, đặc biệt là quyết định xâm chiếm Iraq. Ngược lại, hoạt động của các hạ nghị sĩ và thượng nghị sĩ thường được đánh giá bởi thành công của họ trong việc cung cấp dịch vụ và các dự án cho các bang và quận hay bỏ phiếu phù hợp ở Quốc hội. Nhưng một số cử tri cho rằng đảng của tổng thống phải chịu trách nhiệm toàn bộ, bỏ phiếu bầu quốc hội của họ tùy theo việc họ nghĩ chính quyền quản lý tốt đến đâu. Rất nhiều cử tri thất vọng trước Tổng thống Clinton năm 1994 đã không bỏ phiếu cho các ứng cử viên Dân chủ của Quốc hội.

Đánh giá các vấn đề và những lựa chọn chính sách

Làm thế nào các cử tri có thể đánh giá đúng đắn hiệu quả hoạt động của các ứng cử viên, các đảng phái? Kinh nghiệm cá nhân mang lại rất nhiều thông tin hữu ích cho cử tri. Tìm việc làm, mua hàng tại siêu thị, hoặc vay tiền thế chấp để mua nhà có thể cho mọi người biết rất nhiều điều về thất nghiệp, lạm phát và tỷ lệ lãi suất. Vay theo chế độ hỗ trợ sinh viên hay xin phúc lợi đối với cựu chiến binh cũng nói lên đôi điều về các chính sách của chính phủ. Hàng triệu người Mỹ đã về hưu luôn theo dõi sát sao khoản tiền An sinh xã hội họ được nhận mỗi tháng. Nguy cơ của chế độ quân dịch chắc chắn đã làm tăng ý thức chính trị của những sinh viên đại học Mỹ torng suốt cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Những cử tri không có kinh nghiệm thực tế trong một số vấn đề nhất định có thể thu thập thông tin qua phương tiện truyền thông. Ví dụ, vào thập niên 1990, tình hình tội phạm đã trở thành vấn đề được công chúng quan tâm nhiều hơn so với mười năm trước – ngya cả khi tỷ lệ tội phạm đã giảm trên thực tế – do các phương tiện truyền thông tập trung nhiều hơn vào nó. Và tất nhiên, người Mỹ không cần những kinh nghiệm cá nhân trực tiếp về các cuộc khủng bố và cuộc chiến ở Iraq để hình thành đánh giá của họ về mức độ phù hợp của George Bush trong cuộc đua tái cử năm 2004.

Một chiến lược khác để đoán biết liệu ứng cử viên có phù hợp với vị trí đại diện hay không là xem xét các chính sách mà họ hứa hẹn đưa ra nếu đắc cử. Theo quan điểm của họ đối với các vấn đề, theo lập trường tư tưởng chung hoặc theo tính chất đảng phái của họ, các ứng cử viên sẽ đưa ra những lựa chọn đối với chính sách quốc gia. Quan điểm chính sách nào là quan trọng? Câu trả lời phụ thuộc vào cử tri và hoàn cảnh hiện tại. Đối với các cử tri có quan điểm cứng rắn về vấn đề nạo phá thai, sự khác biệt giữa các ứng cử viên trong vấn đề có thể là quá đủ để họ đưa ra sự lựa chọn. Những cử tri quan tâm tới vấn đề đơn nhất cũng tập hợp xung quanh các vấn đề như kiểm soát súng (bị nhiều người phản đối nhất) hay bảo vệ môi trường (có nhiều người ủng hộ nhất)… Thay vì quan tâm đến một vấn đề duy nhất, các cử tri khác có thể cân nhắc hàng loạt vấn đề, lựa chọn giữa – chẳng hạn – kỳ vọng về thuế thấp hơn và chi tiêu xã hội rộng rãi hơn. Thời điểm cũng quyết định vấn đề nào sẽ quan trọng hơn đối với cử tri. Quyền công dân trở thành vấn đề trung tâm trong cuộc bầu cử năm 1964 khi ứng cử viên Đảng Cộng hòa, Thượng nghị sĩ Barry Goldwater, bang Arizona, bỏ phiếu chống lại Đạo luật về quyền công dân. Việc phải làm thế nào với cuộc chiến ở Việt Nam đã chi phối ý kiến cảu của cử tri khi những người lính Mỹ đang chiến đấu tại đó. Tương tự như vậy, câu hỏi về sự đúng đắn trong việc đưa quân vào Iraq là vấn đề trung tâm đối với cử tri vào năm 2004.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s