Cạnh tranh sâu sắc trong các lĩnh vực mới của khoa học và kỹ thuật, vốn đã biến thành lĩnh vực hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận đặc biệt, đang đem lại những thay đổi trong chính sách công nghệ của các CTXQG của Mỹ, ngày càng mang tính chất quốc tế ở mức độ cao hơn. Trên thực tế, sự quốc tế hóa ngày càng bao trùm thường xuyên hơn lên mọi giai đoạn hình thành và nắm bắt công nghệ mới, bắt đầu từ nghiên cứu triển khai ý tưởng khoa học – kỹ thuật và kết thúc ở sản xuất và tiêu thụ hàng hóa mới trên thị trường thế giới.

CTXQG Mỹ thu hút một cách rộng rãi các chi nhánh nước ngoài của mình vào nghiên cứu và nắm bắt công nghệ tiên tiến. Hướng đi này đã được một số công ty vận dụng ngay từ những năm 70 của thế kỷ XX. Quả thật trong thời gian đó người ta hết sức chú trọng vào việc thực hiện chủ yếu là các công việc thiết kế – thử nghiệm về hoàn thiện các công nghệ nền của các công ty mẹ.

Các số liệu sau đây minh chứng cho sự mở rộng nhanh chóng hoạt động NCKH & TKTN tại các chi nhánh nước ngoài của các CTXQG Mỹ. Nếu năm 1975 chi phí cho mục đích này chiếm 1,5 tỷ USD, năm 1981 là 3,2 tỷ, thì năm 1991 nó đã đạt 26 tỷ USD, tức là trong giai đạon ấy đã tăng hơn 17 lần. Cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI cứ 9 USD mà các CTXQG Mỹ chi cho NCKH & TKTN thì có 1 USD được chi tiêu tại các trung tâm khoa học của các chi nhánh nước ngoài của họ.

Các kết quả NCKH & TKTN, mà để có chúng thường phải sử dụng cán bộ khoa học nước ngoài, đã được các công ty mẹ tích cực ứng dụng. Vả lại, trong một loạt lĩnh vực của ngành công nghiệp chế biến như công nghiệp dược, công nghiệp hóa chất và công nghiệp chế tạo khí cụ thì ý nghĩa của các phòng thí nghiệm khoa học của các chi nhánh nước ngoài nhiều khi còn lớn hơn là của các công ty mẹ.

Dựa vào những thành tựu to lớn riêng của khoa học và kỹ thuật, dựa vào mạng lưới các chi nhánh sản xuất quốc tế, các CTXQG Mỹ luôn nắm giữ trong tay mình các kênh trao đổi chính công nghệ giữa các nước. Đại diện thường trú của các CTXQG dành cho các chi nhánh nước ngoài một sự ưu đãi vô điều kiện trong việc sử dụng các phát minh công nghệ ở ngoài nước Mỹ. Kết quả là hiện nay, hơn hai phần ba số lượng xuất khẩu bằng sáng chế và giấy phép của Mỹ là do các công ty mẹ dnàh để chuyển cho các chi nhánh của mình ở nước ngoài và chỉ có một phần ba – dành cho xuất khẩu thương mại công nghệ sang các công ty độc lập.

Thêm nữa là bản thân các chi nhánh cũng dành phần lớn các chi phí cho NCKH & TKTN (trên 80%) trong các dự án vốn được thực hiện cho nhu cầu riêng của họ, mặc dù những nghiên cứu này thường gắn với những công việc được tiến hành tại các chi nhánh của Mỹ ở các nước khác và ở tại công ty mẹ. Sự hợp tác quốc tế bên trong công ty như vậy, trong chừng mực nhất định, đang chuyển hướng trao đổi công nghệ giữa Mỹ với các quốc gia khác sang liên kết khoa học – kỹ thuật giữa các CTXQG với các chi nhánh của họ, điều đó góp phần nâng cao tiềm năng công nghệ của các công ty Mỹ và đảm bảo vị thế dẫn đầu của Mỹ ở nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc cạnh tranh khoa học – kỹ thuật đầu thế kỷ XXI.

Cuối cùng, phải xét đến cả yếu tố như thu nhập của các công ty Mỹ từ việc chuyển giao công nghệ mới. Trong vòng 5 năm (1999 – 2003), thu nhập thực tế của các công ty Mỹ chỉ từ việc bán sáng chế và giấy phép đã tăng thêm 6,5 tỷ USD và đạt mức 28,3 tỷ USD. Thu nhập từ việc bán công nghệ mới đã giúp điều chỉnh lại sự thiếu hụt trong cán cân thanh toán của Mỹ, và để CTXQG Mỹ sử dụng vào việc tiến hành NCKH & TKTN theo các hướng tiên tiến nhất, tạo điều kiện nâng cao tính cạnh tranh của hàng hóa Mỹ trên thị trường thế giới.

Khác với những năm 1970 – 1980, nét mới trong chính sách đầu tư của các công ty Mỹ vào những năm 1990 là họ đã đầu tư vốn ra nước ngoài chủ yếu nhằm mục đích phục vụ thị trường ngoài nước chứ không để sản xuất hàng hóa rồi tiếp tục xuất khẩu chúng vào Mỹ.

Trong nửa sau những năm 1990, hơn 63% tổng khối lượng hàng hóa và 40% tổng khối lượng dịch vụ mà các chi nhánh của các CTXQG Mỹ bán ra là dành cho các thị trường sở tại của nước ngoài. Lượng bán này đã tăng nhanh hơn so với xuất khẩu trực tiếp của các công ty Mỹ tới 20 – 30%. Tuy nhiên, nếu ở Tây Âu – nơi tập trung phần lớn đầu tư trực tiếp của Mỹ, trong vòng 20 năm gần đây, khối lượng hàng hóa bán ra tăng lên không đáng kể thì ở các nước châu Á, nơi mức sống và sức mua của người dân đang tăng nhanh, – các chi nhánh của Mỹ ngày càng chuyển mạnh hơn sang phục vụ thị trường sở tại: năm 1982, tỷ lệ bán hàng tại chỗ là 41%, năm 1997 – đã là 65%. Một phần do chính nguyên nhân này (đặc biệt xét đến triển vọng) mà Trung Quốc hiện nay đang chiếm một trong những vị trí dẫn đầu trong số các nước đang phát triển về thu hút đầu tư nước ngoài, trong đó có đầu tư của Mỹ, mặc dù ở nửa sau những năm 80, quy mô của những đầu tư này là không đáng kể.

Trong nhiều năm, phần lớn đầu tư của Mỹ vào Canada và Mexico là để phục vụ thị trường nội địa của Mỹ. Tuy nhiên, trong nửa năm sau những năm 1990, bức tranh đã thay đổi: nếu năm 1982, khối lượng hàng hóa của các nhà máy Mỹ đặt tại các nước này bán ra ở thị trường sở tợi chỉ chiếm 18% thì năm 1997 đã là 29%.

Hướng hoạt động quan trọng của các CTXQG, thể hiện rất rõ vào cuối những năm 1990, là tham gia tích cực vào các hiệp hội liên kết, hình thành với sự tham gia của Mỹ, ví dụ như NAFTA và ATEC.

Hiệu lực của NAFTA (bắt đầu từ ngày 1 tháng Giêng năm 1994) đã được các công ty Mỹ sử dụng để làm sao đó trong các điều kiện kinh tế thuận lợi mới được hình thành tại khu vực này sẽ củng cố vị thế kinh tế của mình và chèn ép các đối thủ cạnh tranh châu Âu và châu Á. Vì các rào cản trên đường lưu chuyển vốn ở khu vực đã được dỡ bỏ, nên các công ty Mỹ đã tăng nhanh xuất khẩu đầu tư trực tiếp vào lãnh thổ các nước thành viên của nhóm này. Kết quả là, ngay từ năm 2000, quy mô vốn đầu tư trực tiếp đã đạt tới mức là: Canada đã vươn lên vị trí đứng đầu trong số các nước phát triển về đầu tư trực tiếp của Mỹ vào công nghiệp chế biến, còn Mexico – đứng đầu trong các nước đang phát triển.

Ngày càng có nhiều khả năng lớn hơn nữa được mở ra cho tư bản Mỹ trong ước mơ tạo dựng một khu vực mậu dịch tự do toàn châu Mỹ trên nền tảng NAFTA. Mùa xuân 2001, tổng thống Mỹ G. Bush và 33 nguyên thủ các nước Tây bán cầu đã thỏa thuận: chậm nhất là năm 2005 sẽ hoàn tất các cuộc thương thảo về thiết lập khu vực mậu dịch tự do toàn châu Mỹ, liên kết các nước Bắc và Nam Mỹ. Tận dụng tự do hóa môi trường đầu tư sẽ diễn ra trong toàn bộ không gian lục địa châu Mỹ rộng lớn, các CTXQG có mọi cơ hội để tăng vọt lượng vốn đầu tư không hề nhỏ và khu vực này, năm 2003, khối lượng đầu tư đạt 304 tỷ USD, chiếm 17% tổng vốn tích lũy đầu tư trực tiếp của Mỹ ra nước ngoài.

Mỹ thể hiện mối quan tâm lớn đối với ATEC, được thành lập năm 1989 và liên kết 21 nước – chiếm 50% lượng sản xuất thế giới và hơn 40% thương mại thế giới. Mong muốn củng cố và mở rộng vị thế của mình ở khu vực đang phát triển năng động nhất này (mặc dù khủng hoảng tài chính đã diễn ra ở một loạt nước Đông Nam Á trong những năm 1997 – 1998), cũng như lấn át các đối thủ cạnh tranh của mình, trước hết là các đối thủ châu Á, Mỹ rất tích cực sử dụng việc hủy bỏ các rào cản thuế quan và những trở ngại trên đường lưu chuyển vốn, mỏ rộng lượng vốn đầu tư trực tiếp vào các nước thành viên của tổ chức này. Năm 2003, khu vực này đã tập trung đầu tư với tổng giá trị lên tới 463 tỷ USD, hay là 28% tổng FDI của Mỹ (so với 24% năm 1990).

Mỹ mở rộng sản xuất toàn cầu cũng làm thay đổi quan điểm của các công ty đối với những nước có mức đánh thuế ưu đãi, thuế lợi tức thấp và tự do chuyển lợi tức, tức là với các trung tâm đặt ở nước ngoài. Khác với những thập niên trước, vào đầu thế kỷ này, các công ty Mỹ đã đẩy mạnh hoạt động của mình, tạo ra hàng chục chi nhánh ở các vùng lãnh thổ này và tăng đáng kể quy mô đầu tư của họ.

Vì vậy, năm 2003 chỉ tại 3 trong số những nước này là Panama, Bermuda và các đảo vùng Caribe đã tập trung tới 145,6 tỷ USD, chiếm 25,3% lượng vốn đầu tư trực tiếp của Mỹ vào các nước đang phát triển. Chẳng hạn, trong thờig ian này đã có 83,7 tỷ USD đầu tư trực tiếp của Mỹ được đổ vào Bermuda, lớn gấp 8,3 lần so với đầu tư vào hệ thống tài chính của Thụy Sĩ. Tập trung trong hệ thống tài chính của Caribe (Anh) là khoảng 17,3 tỷ USD, lớn gấp 3 lần khối lượng trong khu vực tương tự của nền kinh tế Pháp.

Chính sách như vậy của các CTXQG được lý giải trước hết bởi lợi nhuận lớn của họ tại những nước có mức thuế thấp nhất, trong khoảng thời gian 1999 – 2002 mức lợi nhuận đã tăng lên 68%, trong khi đó, lợi nhuận của các chi nhánh thuộc các CTXQG này hoạt động trên lãnh thổ của Anh, Đức và một loạt nước khác đã giảm đáng kể, điều này được nhắc tới trong báo cáo được công bố trong Tạp chí Tax Notes tháng 9/2004, viết về các hệ thống thuế tại các nước khác nhau trên thế giới. Năm 2002, lợi nhuận của các công ty Mỹ ở 18 nước “trốn thuế” đã đạt 149 tỷ USD, trong khi năm 1999 con số này là 88 tỷ USD.

Theo số liệu của Bộ Thương mại Mỹ thì năm 2002, cứ 17 cent trong mỗi USD lợi nhuận mà các công ty Mỹ ở nước ngoài thu được là nhờ các nước có mức đánh thuế thấp (năm 1999 – là 10 cent trong mỗi USD). Theo các số liệu của Tax Notes, mỗi USD lợi nhuận mà các chi nhánh của các công ty Mỹ thu được tại Luxembourg trong năm 1999, tới năm 2002 đã tăng lên thành 4,56 USD. Chỉ số tương tự tại Bermuda là 2,96 USD, tại Ireland là 2,01 USD. Singapore là 1,72 USD, và mỗi USD lợi nhuận mà các công ty Mỹ thu được năm 1999 tại Anh và Đức tới năm 2002 đã giảm xuống còn 67 và 46 cent.

M. Sallivan, nguyên chuyên gia về vấn đề thuế quốc tế của Bộ Tài chính Mỹ, người đã chỉ đạo việc soạn thảo báo có trên của UNCTAD, đã nhận xét rằng: sự gia tăng đột ngột lợi nhuận của các CTXQG Mỹ tại các trung tâm đặt tại nước ngoài (ví dụ, như các đảo Bermuda) không hề liên quan gì đến mức độ thúc đẩy nền kinh tế ở những nước này. Theo lời của M. Sallivan, trong thời gian gần đây, các chi nhánh của các công ty Mỹ thu được phần lớn lợi nhuận tại các nước có mức đánh thuế thấp chứ không phải ở nơi mà họ mở rộng hoạt động của mình. M. Sallivan khẳng định, sự tăng đột ngột lãi suất của các chi nhánh của các công ty Mỹ hoạt động tại các nước nêu trên có thể báo hiệu rằng, trong tương lai họ sẽ tạo ra tại đó những chỗ làm việc mới.

Như vậy, cải tổ lĩnh vực kinh doanh quốc tế đã làm thay đổi chiến lược và chiến thuật, cũng như dẫn đến những thay đổi trong cơ chế hoạt động đầu tư quốc tế của các CTXQG. Đồng thời, xuất hiện các xu hướng mới trong xuất khẩu vốn có hiệu quả từ nước Mỹ là đúng quy luật.

(còn tiếp) 

Người dịch: Trần Thành

Nguồn: TN 2006 – 43 & 44

R.I. Zimenov là Giáo sư, Tiến sĩ kinh tế, chuyên viên chính ISKRAN, Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học kinh tế (Nga).

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s