Những hướng mới trong chuyển dịch vốn đầu tư trực tiếp

Vào nửa sau những năm 90 thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, sự phân bố địa lý các khoản đầu tư trực tiếp của Mỹ ra nước ngoài đã có một loạt biến đổi (xem bảng 1). Trước hết liên quan đến các nước đang phát triển – là địa bàn đầu tư vốn truyền thống của các CTXQG Mỹ. Chẳng hạn, nếu năm 1983 nhóm các nước này từng nhận được 159,4 tỷ USD, tức là hơn 76% tổng đầu tư ra nước ngoài của Mỹ, thì năm 2003, tỷ lệ đó giảm xuống còn 71,1%, là 1272,3 tỷ USD. Tuy nhiên, như trước đây, các nước phát triển vẫn là khu vực phân bố chính vốn đầu tư trực tiếp của Mỹ.

Hiện nay, các nước là đối tượng đầu tư lớn nhất của Mỹ là Anh (272,6 tỷ USD), Canada (192,4 tỷ USD), Hà Lan (178,9 tỷ USD), Thụy Sĩ (86,4 tỷ USD) và Nhật Bản (73,4 tỷ USD). Các nước EU (15 quốc gia) được 700 tỷ USD, chiếm 46% tổng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Mỹ.

page-0-3

Sự tập trung tư bản Mỹ vào một số nước thành viên của Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) được lý giải không chỉ bởi các mối quan hệ lịch sử, bởi chế độ đầu tư thuận lợi, bởi dung lượng và những triển vọng phát triển thị trường lớn, bởi mức sống của người dân cao, và bởi một số đặc điểm riêng của thị trường lao động.

Điều có ý nghĩa lớn đối với các nhà đầu tư Mỹ là ở những nước này có một loạt ưu thế, chẳng hạn như cơ sở hạ tầng phát triển, có mạng lưới tiếp thị rộng rãi, những yếu tố “không nhìn thấy được” như thái độ đúng mực đối với sự gia tăng vốn của các thể nhân và pháp nhân, đạo đức kinh doanh, các hoạt động đổi mới tích cực… Tổng thể các điều kiện trên lý giải cho sự quan tâm của các nhà đầu tư Mỹ đối với các nước phát triển.

Các nước đang phát triển, theo số liệu của Liên hợp quốc là khoảng 130 nước, năm 2003 có được 496 tỷ USD (hay 28%) FDI của Mỹ (so với năm 1987 là 23%). Theo chỉ số này thì Mỹ đứng đầu trong số các nước phát triển – những nhà xuất khẩu tư bản lớn nhất, và trong tổng khối lượng đầu tư nước ngoài tích lũy thì tỷ trọng của các nước đang phát triển chiếm 20 – 23%.

Trong suốt những năm 80 và nửa đầu những năm 90 của thế kỷ XX, khối lượng đầu tư trực tiếp của Mỹ vào nhóm nước này gần như dậm chân tại chỗ. Tuy nhiên, vào cuối những năm 90 – đầu thập niên hiện nay, người Mỹ đã quan tâm nhiều hơn tới những nước này. Điều đó được phản ánh trong việc tăng đầu tư của họ vào khu vực này: tăng từ 5,5 tỷ USD năm 1982 lên 28,3 tỷ USD năm 2003, nó đã làm tăng tỷ trọng của các nước đang phát triển trong tổng khối lượng đầu tư tích lũy ra nước ngoài của Mỹ.

Hiện tượng này ở mức độ đáng kể gắn liền với vấn đề là rất nhiều nước đang phát triển đã thực thi các biện pháp tự do hóa lĩnh vực đầu tư, biến lĩnh vực này trở nên dễ tiếp cận hơn đối với các CTXQG, và do sự thay đổi của chính sách kinh tế vĩ mô (trong đó có việc ổn định lĩnh vực tài chính – tiền tệ, đánh thuế, tỷ giá hối đoái, điều tiết hoạt động của các hãng và các công ty) theo hướng phối hợp hoạt động giữa các CTXQG và các hãng trong nước.

Đồng thời, xu hướng tập trung đầu tư của Mỹ vào một nhóm không nhiều những nước phát triển nhất trong số các nước này ngày càng lộ rõ hơn. Năm 2003, tỷ trọng của 12 nước trên chiếm khoảng 72% nguồn đầu tư trực tiếp tích lũy của Mỹ tại các nước đang phát triển. Trong số những nước nhận đầu tư lớn nhất có Bermuda (84,6 tỷ USD); Mexico (61,5 tỷ USD); Singapore (57,6 tỷ USD); Hương Cảng (44,3 tỷ USD) và Brazil (29,9 tỷ USD). Trong khi đó thì 48 nước châu Phi, nằm ở phía Nam Sahara chỉ chiếm khoảng 1% đầu tư của Mỹ vào các nước đang phát triển, mặc dù chính sách của các CTXQG Mỹ trong khu vực này mang tính phân hóa rất rõ.

Một địa bàn đầu tư vốn mới của Mỹ là các nước có nền kinh tế chuyển đổi. Các CTXQG của Mỹ đã đầu tư vốn vào các nước này chủ yếu là vào nửa đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Hiện nay các nước Trung và Đông Âu, kể cả Nga, chiếm vị trí hết sức khiêm tốn trong quá trình đầu tư quốc tế. Theo số liệu thống kê của Mỹ, năm 2003, tổng lượng đầu tư trực tiếp tích lũy trong khu vực này chỉ đạt 20,5 tỷ USD, tức là 1,2% tổng đầu tư nước ngoài của Mỹ. Trong đó, phần lớn đầu tư của Mỹ tập trung vào Nga, Kazakhstan, Ba Lan và Hungary.

Việc tư bản Mỹ kém tích cực đầu tư vào khu vực này được lý giải là bởi ở nhiều nước đó không có môi trường đầu tư thuận lợi: như tình hình kinh tế của họ không ổn định, trang thiết bị sản xuất cũ kỹ, lạc hậu, thiếu nền tảng pháp lý ổn định bảo đảm việc bảo vệ có hiệu quả quyền lợi của các nhà đầu tư. Đồng thời, những nước có môi trường đầu tư thuận lợi, về mặt lịch sử đã từng là khu vực quan tâm của các CTXQG Tây Âu và ngày nay các công ty đó vẫn là những nhà đầu tư chính tại các quốc gia này, như Hungary, tình hình kinh tế ở Trung và Đông Âu, cũng như sự cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường thế giới sẽ góp phần làm thay đổi chính sách đầu tư của Mỹ tại khu vực này.

Trong thập niên gần đây người ta đã thấy những thay đổi trong cơ cấu FDI theo ngành của Mỹ (xem Bảng 2). Nếu trong những năm 60 của thế kỷ XX các khoản đầu tư đổ vào các ngành nguyên liệu là chính, chủ yếu là đầu tư vào ngành khai thác dầu mỏ của nước ngoài, trong những năm 70 – 80 tập trung vào các ngành công nghiệp chế biến, thì vào những năm 90 và đầu thập niên này, phần lớn các đầu tư của Mỹ lại hướng vào lĩnh vực dịch vụ. Nói cách khác, chính sách của các CTXQG Mỹ hiện nay đang chuyển hướng đầu tư trực tiếp tới những quốc gia có nền kinh tế với mức sống dân cư được nâng cao hơn và có sự tăng nhanh nhu cầu đối với các dạng dịch vụ khác nhau (thông tin, thương mại, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm…).

page-1-5

Năm 2003, lĩnh vực dịch vụ chiếm 71,2% tổng vốn đầu tư của Mỹ tại nước ngoài. Trong 14 năm (1990 – 2003), đầu tư trực tiếp của Mỹ vào lĩnh vực này đã tăng 6,7 lần và chiếm 1274 tỷ USD, trong đó đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ tài chính và bảo hiểm là 299,8 tỷ, bán buôn thương mại – 140,6 tỷ, dịch vụ ngân hàng 63,7 tỷ, dịch vụ thông tin – 47,5 tỷ và các dịch vụ khoa học – kỹ thuật – 40,6 tỷ USD. Tăng nhanh nhất là những đầu tư vào các nước phát triển, có tới 65,9% vốn đầu tư của Mỹ tập trung vào lĩnh vực này. Những nước nhận đầu tư lớn nhất trong lĩnh vực dịch vụ là Anh (216,4 tỷ USD), Hà Lan (151 tỷ USD), Canada (92,2 tỷ USD), Thụy Sĩ (77,7 tỷ USD) và Đức (60 tỷ USD).

Các công ty Mỹ cũng tăng cường quan tâm tới lĩnh vực này ở cả các nước đang phát triển: những nước này chiếm khoảng 34% đầu tư trực tiếp của Mỹ trong lĩnh vực dịch vụ, và những nước nhận đầu tư lớn nhất là Bermuda (83,7 tỷ USD), Caribe thuộc Liên hiệp Anh (49,2 tỷ USD), Singapore (44,1 tỷ USD), Mexico (40,3 tỷ USD)và Brazil (15,9 tỷ USD).

Sự khác biệt cơ bản trong đầu tư tư bản Mỹ vào khu vực dịch vụ của các nước phát triển và đang phát triển là như sau. Trong nhóm nước thứ nhất, lợi dụng mức sống dân cư cao và mức cầu của họ về dịch vụ gia tăng, tư bản Mỹ nỗ lực mở rộng quy mô ảnh hưởng vào lĩnh vực kinh doanh này và tăng qui mô thu nhập của mình. Tại các nước đang phát triển, mục tiêu của các CTXQG Mỹ là tận dụng những ưu thế tài chính, thuế quan và các ưu thế khác không hẳn chỉ để tăng số lượng những hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tại đây, mà chủ yếu là làm tăng khả năng cạnh tranh của các hoạt động tài chính, ngân hàng và các hoạt động khác của mình ở các nước phát triển.

Xét về khối lượng FDI, công nghiệp chế tạo đứng thứ hai trong xếp hạng ngành nghề; năm 2003 đạt 378,1 tỷ USD, tức là 21,1% tổng khối lượng FDI của Mỹ. Phần cơ bản của FDI được phân bổ vào các lĩnh vực có hàm lượng khoa học cao của nền kinh tế như công nghiệp hóa học, điện tử và kỹ thuật điện, sản xuất máy tính, các phương tiện giao thông và thiết bị công nghiệp.

Khu vực đầu tư vốn chính của các CTXQG Mỹ trong lĩnh vực này là các nước phát triển. Tỷ trọng của các nước này tăng nhanh, từ 49,9% năm 1975 lên 74,9% năm 2003, đồng thời tỷ trọng của các nước đang phát triển giảm (từ 40,7% xuống còn 25% trong các năm đó).

Khối lượng đầu tư lớn nhất của Mỹ tập trung vào công nghiệp chế tạo ở các nước phát triển như Canada (74,9 tỷ USD), Anh (40,5 tỷ USD), Hà Lan (21,1 tỷ USD), Pháp (19,9 tỷ USD) và Đức (19 tỷ USD). Trong số các nước đang phát triển, những quốc gia tiếp nhận đầu tư chính của Mỹ vào ngành công nghiệp chế tạo là Mexico (20,1 tỷ USD), Singapore (13,4 tỷ USD), Brazil (10,3 tỷ USD), Hàn Quốc (6,8 tỷ USD) và Đài Loan (4,0 tỷ USD). Đầu tư vốn trực tiếp của Mỹ vào công nghiệp chế tạo của các nước khác, như đã nêu, là công cụ chính tạo ra hệ thống sản xuất toàn cầu.

Đầu tư của Mỹ vào các ngành kinh tế khai thác ở nước ngoài trong hai thập kỷ gần đây đã giảm đáng kể, trừ công nghiệp dầu khí. Tỷ trọng vốn đầu tư trong tổng FDI của Mỹ trong năm 2003 là 5,5%, đạt 98,7 USD. Đa phần đầu tư vốn của Mỹ trong các ngành khai thác là hướng vào các nước phát triển như Canada (24,3 tỷ USD), Australia và Anh (cùng 8,2 tỷ USD), Na Uy (5,1 tỷ USD) và Hà Lan (3,5 tỷ USD). Trong khi đó, tổng đầu tư vào các nước OPEC là 18,9 tỷ USD, tương đương 26,5% tổng đầu tư của Mỹ vào công nghiệp dầu mỏ ở nước ngoài.

Tóm lại, không thể không lưu ý tới sự phân hóa vẫn được duy trì trong hoạt động của tư bản Mỹ ở nước ngoài là nằm tham gia vào mọi lĩnh vực kinh tế đa dạng nhất – từ các lĩnh vực truyền thống cho tới các lĩnh vực hiện đại. Quá trình này ghi dấu trong toàn bộ hoạt động đầu tư của các công ty Mỹ ở nước ngoài, điều này bộc lộ ở đặc điểm hoạt động mang tính quy mô và tổng thể hơn của họ, trong quá trình hiện đại hóa các hình thức truyền thống và vận dụng các hình thức và các biện pháp mới khác nhau của hoạt động này.

(còn tiếp) 

Người dịch: Trần Thành

Nguồn: TN 2006 – 43 & 44

R.I. Zimenov là Giáo sư, Tiến sĩ kinh tế, chuyên viên chính ISKRAN, Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học kinh tế (Nga).

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s