Phạm Văn Đức

……..

Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh tính phổ biến của chủ nghĩa Marx – Lenin, nhưng đòi hỏi phải có sự sáng tạo khi vận dụng chân lý phổ biến đó. Chính sự sáng tạo sẽ giúp cho công cuộc xây dựng CNXH thành công, tránh được sự thất bại do bệnh giáo điều, máy móc. Người viết: “HIện nay đứng về mặt xây dựng CNXH, tuy chúng ta đã có những kinh nghiệm dồi dào của các nước anh em, nhưng chúng ta cũng không thể áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách máy móc, bởi vì nước ta có những đặc điểm riêng của ta”. Kinh nghiệm của Liên Xô trong xây dựng CNXH là một vốn quý, song Hồ Chí Minh lưu ý rằng, “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác ta, có lịch sử địa lý khác… Ta có thể đi con đường khác để tiến lên CNXH”.

Trên tịnh thần đó, Hồ Chí Minh đã có cách diễn đạt riêng về bản chất của CNXH. Cách diễn đạt đó thấm đượm đặc điểm của dân tộc phương Đông, mà trọng tâm tập trung chú ý đến vấn đề dân sinh, tức là chú ý đến đời sống của nhân dân, sự sinh tồn của xã hội, sinh kế của quốc dân, sinh mệnh của quần chúng như Tôn Trung Sơn đã từng nhấn mạnh. Nếu Tôn Trung Sơn quan niệm vấn đề dân sinh là “vấn đề xã hội, nên chủ nghĩa dân sinh là chủ nghĩa xã hội”, thì Hồ Chí Minh quan niệm mục tiêu của CNXH là giải quyết vấn đề dân sinh, mang lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Hồ Chí Minh quan niệm dân là gốc của cách mạng. Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ: “Phải nhớ dân là chủ. Dân như nước, mình như cá. Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết”. “Chính phủ là công bộc của dân vậy. Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do, hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”. Quyền mà nhân dân Việt Nam đã giành được là “quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Mong muốn duy nhất của Người là “làm sao đem lại cho dân chúng được tự do độc lập hoàn toàn và để cho tất cả mọi phần tử quốc dân được hưởng tự do độc lập ấy như muôn vật được hưởng ánh sáng mặt trời”.

Hồ Chí Minh khẳng định rằng, “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.

Trong các quyền mà dân được hưởng, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến quyền sống, đến việc nâng cao đời sống nhân dân. Điều đó được thể hiện trong nhiều bài viết và phát biểu của Người. Khi trả lời câu hỏi “CNXH là gì?”, Hồ Chí Minh chú ý trước hết đến phương diện đời sống của nhân dân. Người viết: “CNXH là làm cho mọi người dân sung sướng, ấm no”; “Mục đích của CNXH là không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân”, bởi vì “dân lấy ăn làm gốc, có thực mới vực được đạo”; “Tục ngữ có câu: “Dân dĩ thực vi nhiên”, nghĩa là dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn là không có trời…

Vì vậy, chính sách Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm lo đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”; “Đảng ta đấu tranh để làm gì? Là muốn cho tất cả mọi người được ăn no mặc ấm, được tự do. Mỗi một đảng viên đấu tranh để làm gì? Cũng để mọi người được ăn no mặc ấm, được tự do. CNXH là cái gì? Là mọi người được ăn no mặc ấm, sung sướng, tự do”,…

Như vậy, nói đến CNXH, Hồ Chí Minh trước hết nói đến vấn đề dân sinh, tức là trước hết phải giải quyết được những nhu cầu thiết yếu của người dân. Nếu không giải quyết được những nhu cầu đó thì việc xây dựng CNXH sẽ không có ý nghĩa và người dân cũng không thiết tha gì với CNXH. Đúng như Hồ Chí Minh đã nhận xét: “Nếu bụng đói thì các cô các chú nói gì hay mấy cũng không ai nghe”. Chính vì vậy, Người nhiều lần nhắc đi nhắc lại rằng, “CNXH là mọi người dân được áo ấm cơm no, nhà ở tử tế, được học hành”, “CXHN nhằm làm cho đời sống nhân dân ngày càng sung sướng, ăn no, mặc ấm, được học hành, ốm đau có thuốc”, “Đảng và Nhà nước ta dùng lực lượng của nhân dân để xây dựng cho nhân dân một đời sống ngày càng sung sướng. Đó là CNXH”. “Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, CNXH trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”.

Như vậy, khi nói đến CNXH, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh trước hết đến yêu cầu phải làm sao nâng cao được đời sống của nhân dân, làm sao cho mọi người dân đều được áo ấm, cơm no, có nhà ở tử tế, được học hành. “Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân phải được ta đặc biệt chú ý”. Người còn giải thích rõ rằng: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”.

Những tư tưởng đó của Hồ Chí Minh đã được Đảng Cộng sản Việt Nam kết thừa và phát triển, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mành, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Mặc dù vậy, từ thực tiễn xây dựng CNXH của Việt Nam và Trung Quốc, đặc biệt là thực tiễn của những năm cải cách, mở cửa và đổi mới của hai nước, chúng ta có thể khẳng định rằng, cho đến nay, vấn đề dân sinh đối với hai nước vẫn là vấn đề mang ý nghĩa thời sự cấp bách. Tuy mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, song đều lựa chọn con đường XHCN và đang tiến hành cải cách, đổi mới để xây dựng thành công CNXH. Sự nghiệp cải cách của Trung Quốc và đổi mới của Việt Nam có ý nghĩa lịch sử to lớn, đã và đang tiếp thu được những thành tựu hết sức quan trọng. Trung Quốc tiến hành cải cách từ năm 1978, còn Việt Nam tiến hành đổi mới từ năm 1986. Mục tiêu của cải cách và đổi mới không gì khác hơn là nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, xây dựng cuộc sống ngày càng hạnh phúc cho con người. Đó cũng chính là mục tiêu cơ bản trong chủ trương xây dựng xã hội hài hòa của Trung Quốc và chiến lược phát triển nhanh, bền vững của Việt Nam.

2/ Chủ trương xây dựng xã hội hài hòa của Trung Quốc và chiến lược phát triển nhanh, bền vững của Việt Nam

Nghị quyết về việc xây dựng xã hội hài hòa XHCN được thông qua tại Hội nghị Trung ương 6 (Khóa XVI) năm 2004 của ĐCS Trung Quốc. Mục tiêu của việc xây dựng xã hội hài hòa là nhằm giải quyết những vấn đề xã hội quan trọng khi Trung Quốc chuyển trọng tâm từ phát triển kinh tế sang thực hiện công bằng xã hội và phát triển bền vững, giải quyết những mâu thuẫn xã hội trong quá trình phát triển kinh tế nhằm tạo ra môi trường xã hội tốt đẹp. Xã hội hài hòa XHCN, theo cách xác định của ĐCS Trung Quốc, là một xã hội “dân chủ pháp trị; công bằng chính nghĩa, thành thực giữ chữ tín và thương yêu nhau; tràn đầy sức sống, yên ổn có trật tự, con người chung sống hài hào với tự nhiên”.

Như vậy, xã hội hài hòa XHCN có 6 nội dung cơ bản: Thứ nhất, “dân chủ pháp trị” có nghĩa là dựa vào pháp luật để trị nước, phát huy dân chủ XHCN. Một xã hội hài hòa phải là một xã hội dựa trên việc phát huy dân chủ dưới sự bảo trợ của pháp luật. Thứ hai, thực hiện “công bằng chính nghĩa” có nghĩa là thực hiện công bằng trong phân phối, công bằng trong giáo dục và việc làm. Công bằng là một nguyên tắc quan trọng của CNXH và là ước mơ chính đáng của nhân loại. Thứ ba, “thành thực giữ chữ tín và thương yêu nhau” được xem như là một quy phạm đạo đức nhằm bảo đảm sự phát triển hài hòa. Vấn đề giữ chữ tín và thương yêu nhau là hết sức quan trọng trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường. Nhiều học giả còn cho rằng, nếu trước đây Trung Quốc nói đến Mr. Dân chủ và Mr. Khoa học thì hiện nay, ngoài hai Mr. đó, cần bổ sung thêm Mr. Đạo đức. Thứ tư, “tràn đầy sức sống” được xem là động lực của sự phát triển hài hòa xã hội. Sức sống tràn đầy là điều kiện cơ bản của tiến bộ xã hội được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội từ kinh tế chính trị đến văn hóa, xã hội và con người. Muốn xã hội tràn đầy sức sống thì phải tôn trọng trí thức, tôn trọng người lao động, tôn trọng nhân tài. Thứ năm, “ổn định có trật tự” là yếu tố không thể thiếu được của xã hội hài hòa. Một xã hội ổn định có trật tự là một xã hội có kỷ cương, mọi người đều tự giác tuân thủ các quy tắc của xã hội. Đó là một xã hội bình yên, không loạn lạc, mọi người đều có điều kiện phát triển về tài năng và nhân cách. Thứ sáu, “con người chung sống hài hòa với tự nhiên” được xem là nguyên tắc ứng xử với tự nhiên nhằm bảo vệ môi trường sống của con người. Phát triển kinh tế không dẫn đến hủy hoại môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại, đồng thời không làm ảnh hưởng tới việc thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau.

Ngoài ra, xã hội hài hòa còn được hiểu theo nghĩa là một xã hội trong đó sự phát triển kinh tế hài hòa với sự phát triển chính trị, văn hóa, xã hội; đảm bảo sự hài hòa giữa các giai tầng của xã hội, hài hòa giữa các vùng miền, giữa nông thôn và thành thị, giữa miền núi và miền xuôi; đảm bảo Trung Quốc hài hòa và châu Á hài hòa.

Như vậy, trong 6 nội dung cơ bản của xã hội hài hòa XHCN như đã trình bày ở trên thì có 5 nội dung thuộc về các quan hệ xã hội, trực tiếp liên quan đến mối quan hệ giữa con người với con người và chỉ có 1 nội dung có liên quan đến mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Phát triển bền vững, theo nghĩa truyền thống, là bảo đảm tăng trưởng kinh tế trên cơ sở sử dụng một cách hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Đây là một nội dung quan trọng trong chủ trương xây dựng xã hội hài hòa.

Trên cơ sở những nội dung cơ bản của xã hội hài hòa XHCN, Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XVI) của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đưa ra 9 mục tiêu mang tính chiến lược:

Thứ nhất, hoàn thiện hơn nữa pháp chế XHCN; thực hiện một cách toàn diện phương châm sách lược quản lý đất nước cơ bản theo pháp luật; thực sự tôn trọng và bảo vệ quyền lợi của nhân dân;

Thứ hai, từng bước làm thay đổi tình trạng nới rộng khoảng cách về chênh lệch phát triển giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền trong cả nước; về cơ bản hình thành cục diện phân phối thu nhập hợp lý; tăng tài sản của gia đình; làm cho nhân dân có cuộc sống đầy đủ, sung túc hơn;

Thứ ba, đảm bảo xã hội có đủ việc làm; xây dựng hệ thống an sinh xã hội bảo đảm cho người dân cả ở thành thị lẫn nông thôn;

Thứ tư, hoàn thiện hơn nữa hệ thống dịch vụ công cơ bản; nâng cao mạnh mẽ trình độ phục vụ của chính phủ;

Thứ năm, nâng cao rõ rệt tố chất tư tưởng đạo đức, văn hóa, khoa học – kỹ thuật và sức khỏe của toàn dân tộc; xây dựng tác phong đạo đức tốt, từng bước tạo lập mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên;

Thứ sáu, nâng cao rõ rệt sức sáng tạo của toàn xã hội, xây dựng quốc gia theo mô hình sáng tạo;

Thứ bảy, hoàn thiện hơn nữa hệ thống quản lý xã hội;

Thứ tám, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, tạo sự chuyển biến thực sự về môi trường sinh thái;

Thứ chín, thự chiện mục tiêu xây dựng xã hội khá giả, ở mức cao hơn nữa có lợi cho hơn một tỷ người dân tạo mọi điều kiện để toàn thể nhân dân có thể phát huy hết khả năng của mình, thu được những gì mà mình cần có và đồng thời cùng chung sống hài hòa.

Điều cần lưu ý là ở chỗ, cả chín mục tiêu và nhiệm vụ nói trên đều nhằm tập trung giải quyết vấn đề đời sống của người dân, tạo môi trường cho người dân có thể phát huy hết tiềm năng sáng tạo của bản thân mình, bảo đảm công bằng xã hội và sự phát triển bền vững của xã hội. Điều đó cũng có nghĩa là, vấn đề dân sinh trở thành vấn đề trọng tâm và mục tiêu của sự phát triển hài hòa xã hội chủ nghĩa.

(còn tiếp)

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn & Nguyễn Đình Hòa (đcb) – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Phạm Văn Đức là PGS, TS, Viện trưởng Viện triết học, Tổng biên tập Tạp chí Triết học, Viện KHXH Việt Nam.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s